CAFE |NGUYEN NGOC CON NGUOI LANG MAN | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku

Tôi quen Nguyên Ngọc đã lâu, dễ đến hai chục năm. Tính anh phóng khoáng, bia rượu khá. Chúng tôi uống với nhau đã nhiều lần, khi thì ở sông Đà, khi ở Thái Nguyên, khi ở Đà Nẵng, khi ở Sài Gòn - không kể bao nhiêu lần ở Hà Nội. Ấy thế mà không hiểu sao tôi cứ cảm thấy giữa anh và tôi có một cái gì như vẫn có một khoảng cách. Ấy là nói về phía tôi thì thế - một thứ mặc cảm của riêng tôi thôi - còn anh, anh có cảm thấy thế không, tôi không biết. Có lẽ vì anh theo đuổi một cái gì rất cao, nên có những nguyên tắc sống rất nghiêm. Còn tôi thì sống thế nào cũng xong. Có phần dễ dãi với mình. Và cũng dễ mềm lòng trước những lời nói khéo, nói ngọt, tuy biết rằng chưa hẳn đã là chân thật. Nghĩa là sống thiếu nguyên tắc. Cái yêu, cái ghét của anh thì khác, phân minh lắm và không dễ thay đổi, lắm lúc dường như là cố chấp. Vừa rồi Ban Chấp hành Hội Nhà văn cấp cho anh mấy triệu gọi là tiền bồi dưỡng sáng tác. Anh không nhận. Viết gì đã có nhuận bút, còn tiền kia là của nhân dân, anh nghĩ thế và dứt khoát từ chối. Tôi thì tôi nhận ngay và tiêu luôn. Đấy, cái gọi là khoảng cách giữa tôi và anh là ở đấy chăng?

Nhưng tôi rất thích trò chuyện với anh. Anh không ném ra những nhận xét, những ý nghĩ khôn ngoan như Nguyễn Khải. Cũng không có những phát hiện tinh quái đời thường như Tô  Hoài. Chuyện của anh thường là những trải nghiệm khác thường, dữ dội, gấy ấn tượng mạnh. Tôi cứ nhớ mãi cái chuyện nấu cháo ba lần với một cục xương voi hồi anh công tác tuyên huấn sống cheo leo trên một sườn núi cao, phía Tây Trà Mi, gọi là "Nóc ông Nây". Đời sống quá cơ cực, không mấy khi được thấy hạt gạo. Có một anh kiếm ở đâu về được ba lon gạo, nhưng thủ trưởng không cho ăn, bắt treo lên để dành, phòng khi tuyệt hết lương thực. Nhưng cứ gạ mãi rồi thủ trưởng cũng xiêu lòng, mỗi lần cho lấy một lon nấu cháo. Họ cử người tìm đến một buôn làng gần đó, đổi muối lấy một cục xương voi đem về cho vào nồi cháo. Ăn xong vất quách ra ngoài rừng. Nhưng đến khi được ăn lon gạo thứ hai, bí quá, lại ra nhặt cục xương lăn lóc ngoài rừng về nấu lại. Cứ thế, nấu đi nấu lại đến ba lần! Nếu còn gạo nữa, có khi vẫn tiếp tục.

Anh còn một chuyện nữa cũng ác liệt: Chuyện gùi muối leo dốc. Ấy là cái dốc gọi là dốc Vượt trên đường từ Quảng Nam lên Tây Nguyên. Cái dốc cao cứ ngược mãi lên thăm thẳm, leo suốt ngày mới tới đỉnh - đúng là "dốc Quảng Nam, gan cộng sản". Gùi muối, nặng, lại là gùi tre, nó cọ vào lưng, muối trộn mồ hôi thấm ra, xót ơi là xót. Mệt và xót mà không dám dừng lại. Leo miết được lên đến đỉnh dốc, sướng quá, anh nào anh nấy, cứ thế cả gùi cả người vật ngửa luôn ra để thở một chập cho đã. Ấy thế mà cứ như có ma ám, có anh loanh quanh thế nào, khi tụt xuống, lại tụt đúng cái dốc mình vừa leo lên. Chà, khác gì cái chuyện anh chàng Sisyphe trong thần thoại Hi Lạp chịu khổ hình phải lăn một tảng đá lên một cái dốc núi, nhưng cứ gần tới đỉnh, tảng đá lại lăn trở lại, cứ thế suốt đời! Chuyện của Nguyên Ngọc là thế: sự thật mà cứ như huyền thoại vậy. Mà hình như ký ức của anh nó cứ lưu giữ toàn những cảnh tượng không bình thường, như thuộc thế giới tiền sử, thậm chí cái thuở mới khai thiên lập địa, cuộc sống hoang dã hồng hoang. Vừa rồi, Nguyên Ngọc còn kể cho tôi nghe một chuyện này nữa cũng thật kỳ lạ: Cách đây khoảng mười năm gì đó anh có tới một hòn đảo, gọi là Hòn Nghệ, thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Đảo rất nhỏ, dân số chỉ độ một trăm người. Nhưng mà đủ mặt tứ xứ giang hồ, thuộc nhiều phe phái chính trị khác nhau, thậm chí đối địch. Mỗi người có  một lý do riêng để phải trốn tránh ra cái hòn đảo heo hút này. Nhưng họ đều vứt bỏ quá khứ, chung sống với nhau.

Lâu nay tôi vẫn nghĩ, tâm hồn mỗi nhà văn có một sức hút riêng đối với ngoại cảnh. Dường như tâm hồn Nguyên Ngọc bắt rất nhạy những gì dữ dằn, quyết liệt và có một vẻ hoang dã như sự sống thời nguyên thủy. Tính cách Quảng Nam chăng? Cũng có thể. Nhưng tôi còn muốn giải thích bằng một lý do khác nữa: ảnh hưởng của cái môi trường sống của anh thời thơ ấu ở Hội An. Nguyên Ngọc sinh ra ở Đà Nẵng. Nhưng từ hai tuổi đến mười bảy tuổi thì sống ở Hội An. Nguyễn Tuân đã viết một bài ký rất hay về cái vùng Hội An, Cửa Đại rất cổ xưa này, đúng vào cái thời thơ ấu của Nguyên Ngọc: Những ngôi nhà cổ. Những tòa thành cổ. Chiếc xe ngựa cũ kỹ, giống như xe thổ mộ Nam Kỳ, lọc cọc, lạch cạch lăn bánh chầm chậm "một cách rất nên thơ" trên những con đường đất đỏ. Nguyễn Tuân gọi là "hình bóng sự vận tải của một thời Trung cổ". Một cái bến nước gợi nhớ cái bến nước nào đó trong thơ Đỗ Phủ - chỉ thiếu có tiếng dồn châm đập lụa: Thành Bạch dồn châm bóng ác tà.

Bãi bể Cửa Đại thì vắng vẻ, hoang sơ, chưa hề nhiễm mùi đô thị. Tạo vật được kính trọng đến cả trong tiếng động. Ngoài bản đàn muôn thuở của sóng biển và gió ngàn thông, tịnh không có tiếng nhạc hỗn xược của khiêu vũ hay cái ồn ào vô lễ của tiệc tùng các khách sạn... Và con người cũng có một cái vẻ gì cổ cổ. Dường như ta có thể bắt gặp ở đây một cậu Bằng Lang trong Tuyết hồng lệ sử, một ông tù trưởng của một Xứ Mường nào, một vẻ đẹp trinh trắng, thánh thiện của Thánh mẫu Maria... Và những cô gái thì hồn nhiên ngây thơ và hiền lành biết bao - Nguyễn Tuân ví họ như những củ hoài sơn trong thang thuốc Bắc... Đấy, tôi ngờ rằng cái không khí cổ xưa và hoang sơ đó đã thấm sâu vào tâm hồn Nguyên Ngọc. Từ đó, năm mười bảy tuổi, cuộc kháng chiến lại đưa anh  thẳng lên Tây Nguyên, vào tận núi Ngọc Linh chót vót, sống với những người dân Bahnar, Ê đê, Gia Rai... liền mấy năm trời...

   Nguyễn Đăng Mạnh

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 26 / 6
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn