CAFE CONG NGHE|CO MOT TAY NGUYEN MEO MO TRONG TIEU THUYET POTHI | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku

 

Ở Tây Nguyên, nhắc đến pơthi, người ta hiểu đó là lễ bỏ mả, là những ngày vui nhất trong năm, có thể được xem như tết của người bản địa. Pơthi chính là khoảng thời gian lí tưởng để nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, văn nghệ dân gian được thể hiện một cách tự giác.

Lấy bối cảnh một làng Jrai, cách đây khoảng vài ba chục năm, Pơthi* kể về những biến đổi liên quan đến số phận con người và cộng đồng. Từ chỗ đang sống chan hòa với thiên nhiên, muông thú, con người bỗng chốc tiếp xúc với thế giới văn minh rồi sau đó, để định canh định cư, họ bị nhấc ra chỗ ở của mình. Rừng bị tàn phá không thương tiếc, phong tục tập quán dần mất, con người trở nên hoang mang, mất phương hướng. Sau những thất vọng, buồn đau, những người Jrai bé nhỏ và tội nghiệp tạm đặt niềm tin vào việc trồng cao su, như một cách vá víu lại màu xanh đã mất của rừng. 

Lẽ dĩ nhiên, tiểu thuyết này không viết về pơthi với ý nghĩa như đã nêu trên. Người viết bài cũng không nhìn nhận cuốn sách như một công trình nghiên cứu, mà chỉ xem nó như một văn liệu có liên quan đến văn hóa Jrai. Từ đó, bước đầu tìm hiểu xem đời sống của cộng đồng đã được tác giả mô tả trong đó ra sao, có hợp lí và gần với thực tế hay không.

 Môi trường nguyên thủy… siêu thực

Mặc dù đã trải qua hai cuộc kháng chiến hứng chịu nhiều bom đạn, cộng thêm những biến đổi mạnh mẽ và toàn diện sau năm 1975, nhưng trong tác phẩm này, khung cảnh núi rừng thuộc khu vực làng Chan, nơi “có hơn ba chục nóc nhà” Jrai sinh sống đẹp lạ lùng. Thực vật còn nguyên vẹn, động vật đông đúc, đa dạng và thân thiện đến độ con người có thể gần gũi với chúng như vật nuôi. Thú nhiều vô kể, voi về dòng suối gần làng tắm táp, thậm chí làng còn có cả đội thợ săn đi bẫy voi về thuần phục…

Mọi thứ thật hiền hòa, chẳng hạn đây là một số động vật hoang dã xuất hiện dọc đường trở về làng của hai đứa trẻ mới lớn vào rừng chặt cây: “Bầy khỉ ngó nghiêng nhìn cảnh tượng này. Mấy chú nai tròn xoe mắt trông. Con công đực đang khoe từng chiếc lông đuôi rực rỡ sắc màu liền khép lại, ngơ ngẩn ngó theo. Một đàn châu chấu bật tanh tách, nhảy dạt ra hai bên nhường đường”… (tr. 107).

Ở một đoạn khác, nam nhân vật rời làng, lang thang vào rừng, và thế là: “Thú rừng xem Đih như đồng loại thân quen. Đàn nai nhìn Đih lững thững giẫm trên thảm lá khô. Lũ gà thơ thẩn tìm mồi. Con báo gấm hờ hững dòm Đih rồi tiếp tục ngủ ngon lành trong gốc cây”... (tr. 148).

Đây, sự “giao hòa” với tự nhiên của nhân vật Duch: “Có lần già ngồi trên một con trăn đất mà tưởng khúc cây mục. Da trăn màu xam xám, mốc mốc. Già đang ung dung hút thuốc, tận hưởng hương thơm ngan ngát của các loài hoa cỏ, lắng nghe tiếng suối rì rầm nơi xa vắng vọng về thì thấy mình đang trôi từ từ. Thì ra tàn thuốc nóng làm trăn ngủ say tỉnh giấc (…) Chuyện nhầm lẫn như thế thường xuyên xảy ra, chẳng ai coi đó là chuyện lạ (...) Lại có một lần trên đường ra rẫy, bất thình lình một con vượn nhảy ra ngồi chồm hỗm, giơ cái chân bị kẹp nát bét trước mặt già (…) Già đắp lá và băng vết thương cho nó. Xong việc nó nhảy lò cò vào rừng. Mấy ngày sau, nó lại ra đứng ở đoạn đường đó chờ già, chìa chân ra. Lần cuối già đắp thuốc khi vết thương đã khô miệng (…) Rồi chính già dẫn dụ mấy con dê núi về nuôi để chúng trở thành loài vật quen thuộc trong mỗi gia đình và sinh con đều đều cho đến tận bây giờ”… (tr. 196-197).

Chưa hết, có lần ông và cháu từ nhà ở của mình đến nhà rông, “trên đường gặp bốn con bò rừng rất to. Điềm tốt. Chưa có ngày nào thú về làng nhiều thế. Hươu, nai đứng đầy sân. Cháu nhặt đất ném chúng. Chúng ngúc ngoắc đầu quay sang nhìn cháu…” (tr. 375).

Bỏ qua những chi tiết vô lí đến hài hước (ngồi trên mình trăn hút thuốc, chữa bệnh cho vượn, thuần hóa dê rừng,…), độc giả có quyền đặt câu hỏi: liệu cách nay khoảng vài ba chục năm, ở đâu đó trên Tây Nguyên vẫn còn cảnh núi rừng, muông thú “kì thú” (chữ của tiểu thuyết) đến như vậy chăng? Chúng tôi nghĩ là không, thậm chí trước đó hàng trăm năm, những cảnh, vật ấy cũng rất khó có thể xảy ra. Những đoạn viết như vừa nêu khá nhiều, có lẽ chúng chỉ hợp với truyện cổ tích dành cho trẻ nhỏ, chứ nhất định không thể là tiểu thuyết viết về một vùng đất nhiều biến động Tây Nguyên.

Một Tây Nguyên… “vô chính phủ”?

Nếu xem làng Chan nguyên thủy là hình ảnh của một Tây Nguyên thu nhỏ cách nay 20, 30 năm, thì nhiều khả năng, đó là một vùng đất “vô chính phủ” dưới nhãn quan của người viết. Nói một cách chính xác thì, theo những gì mà tiểu thuyết này mô tả, tại đây chính quyền chưa được thiết lập.

Trong bối cảnh hoang sơ như đã nêu trên, ngày nọ, khi dân làng đang đi cắt cỏ tranh thì tác giả cho “năm con voi như năm quả núi đang lững lừng đi tới”. Trong chốc lát, nhân vật Mên bị voi giết. Chết, đem về chôn. Thế là xong. Đương nhiên, tác giả có quyền cắt lấy một mảng, đoạn của câu chuyện, không nhất thiết phải thế này thế khác, nhưng viết như thế đồng nghĩa với việc khẳng định nơi này vẫn còn là vùng đất hoang? Cái chết của người này có thể minh họa cho ý tưởng của tác giả, rằng dân làng đang được sống trong một môi trường cổ xưa, chưa có chính quyền? 

Thiếu vắng chính quyền, làng Chan không hề có điện thắp sáng (điều này có thể từng xảy ra), không có đường liên làng liên xã (từ làng ra đường cái vào mùa mưa mất hơn hai ngày đi bộ) và đương nhiên cũng không có trạm xá hay trường học. Đau ốm tự lo, trẻ con thì chơi bời loanh quanh trong làng hoặc lên rẫy, vào rừng chứ chưa từng biết đến lớp học là gì. (Nhưng có người không học mà vẫn biết đọc, thậm chí có người chưa từng học lớp 1, lớp 2, lại vẫn có thể lên tỉnh học trường y – xin xem chi tiết ở phần sau). Không hề có chính quyền cấp cơ sở, mọi hoạt động của làng được điều hành bởi một “hội đồng già làng” (chữ của tiểu thuyết)…

Chính từ cái xã hội mà tác giả tự nghĩ ra ấy, phát sinh nhiều chuyện bi hài, khó tin, kiểu như người sắp đẻ được đưa ra túp lều ở bìa rừng, người đau ốm (từ nóng sốt đến gẫy chân), ngoài kêu gọi sự phù hộ của thần linh, dân làng đều tự chữa lấy. Cá biệt, có trường hợp người cao tuổi (già Duch) bị gãy chân, người ta chỉ bó nẹp sơ sơ, thế mà rồi sau một thời gian thì lành hẳn. Tất nhiên ở trong cái làng không có thật ấy, người viết đã giúp dân làng những “phác đồ” lạ lùng: khi nhân vật bị nóng sốt, “già Duch liên tục lấy khăn lạnh đắp trán, lau người” là một ví dụ.

Cứ tạm cho đó là làng Chan khi còn hoang sơ, chưa tiếp xúc với bên ngoài. Còn sau đó, khi đã loáng thoáng thấy bóng dáng chính quyền, khi “người lạ” (chữ của tiểu thuyết) bắt đầu mở đường, cơ giới lên rừng khai thác gỗ, suối được làm thủy điện thì sao? Kì lạ thay, dưới ngòi bút của tác giả, cộng đồng ấy đến thời điểm đó, vẫn biệt lập như sống ở một ốc đảo. Nghĩa là họ vẫn không biết gì về những việc đang xảy ra quanh mình.

Một ngày ông Duang đi tham quan theo tiêu chuẩn “già làng trưởng bản tiêu biểu” bằng ô tô, từ huyện trở về, kể: “Chô cha! Lũ tui được ngồi trong những hộp sắt. Nó to như con voi”… Ông Duang cũng là người đã lặp lại cách diễn đạt được cho là của một nhân vật trong lịch sử nước ta hồi thế kỉ 19, khi nói về bóng điện: “ngoài huyện có nhiều thứ lạ lắm. Ngọn đèn để ngược cũng sáng. Mưa to, gió mạnh cũng không tắt. Quạt có ba tai to như tai voi. Mỗi lần quay là sinh ra gió. Mình không phải làm gì hết”. Cha của ông Duang không tin lắm vào điều đó, nên khi thấy ô tô về làng, chính ông đã ngạc nhiên, chạy ra đầu xe: “Già nhìn chiếc xe. Nó có nhiều bánh hơn Duang kể (…) Người lái xe hạ kính, thò đầu qua cửa nhăn nhó: Già muốn chết à? Muốn ăn bánh xe à? Không được chạy ra giữa đường. Già chịu khó đọc luật đi nhé. Luật gì? – Già Duch lẩm bẩm – Làng ta không có luật này”… (tr. 184-186)

Ở một đoạn khác, khi được cháu trai trả lời rằng việc khai thác gỗ là quyền của nhà nước, già làng Duch đã hỏi: “Nhà nước ở đâu to thế?” (tr. 193) v.v.

Có thể dẫn thêm rất nhiều ví dụ kiểu như trên. Quả thật, đây là một sự diễn dịch quá xa sự thật. Mọi người đều biết ở Tây Nguyên, sau 1975, chính quyền được thiết lập, kiện toàn từ cấp cơ sở. Ở mỗi làng dân tộc thiểu số, bên cạnh việc phát huy vai trò của các già làng (chủ yếu đảm đương việc cúng tế, xử kiện,…), ít nhất có một người trong cộng đồng được bầu giữ chức trưởng thôn. Người này được nhà nước trả lương, là cánh tay quản lí hành chính nối dài của ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, không thể nói rằng việc làm đường hay khai thác gỗ,… mà dân làng không hay biết gì. Càng không có chuyện già làng “ngu ngơ” đến mức như tác giả đã tả: không biết xe cơ giới là gì, không hiểu nhà nước là ai, không biết ai đang khai thác gỗ (tác giả sách gọi đó là những “người lạ tàn sát rừng”).

Mặt khác, có lẽ tác giả đã vội quên rằng, suốt hai cuộc kháng chiến vừa qua, Tây Nguyên vừa là địa bàn chiến lược, là tiền tuyến cũng lại vừa là hậu phương của quân đội. Có thể nói mà không sợ sai rằng, không có một buôn làng nào đứng ngoài các cuộc chiến đó. Tắm mình trong chiến tranh, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên biết đến nhiều loại vũ khí, máy bay, xe tăng, thiết giáp, tiếp xúc với rất nhiều người Kinh (bộ đội, cán bộ), thậm chí là cả người Pháp và người Mĩ trong một số trường hợp, chứ không phải như nhà văn viết, rằng đến thời điểm đó vẫn chưa ai trong làng Chan biết ô tô, xe đạp là gì. Cần nhớ rằng, từ những năm 20 của thế kỉ trước, ông Nay Der đã là nhà giáo, đi theo cách mạng rồi trở thành một trong những trí thức tiêu biểu của dân tộc Jrai ở miền đất này; từ 1955, Núp đã được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Cả hai ông đều là đại biểu quốc hội từ rất sớm.

Cố gắng tạo dựng hình ảnh một cộng đồng truyền thống nguyên bản, cho dù vô tình hay cố ý, người viết cũng đã thực sự vượt quá giới hạn của sức tưởng tượng, vô lí đến mức khó có thể chấp nhận.

Con người phi phàm… không tưởng

Đàn ông Tây Nguyên khỏe mạnh, can đảm và thượng võ. Có thể xem đó là những nét phẩm chất nổi trội dễ nhìn thấy ở họ. Nhưng mô tả như nhà văn trong đoạn dưới đây thì có “quá đáng” lắm chăng? Nhân vật Duang: “Một mình ông từng vác con mang to bằng ba người khiêng, lùi lũi đi từ rừng về. Có lần bằng tay không, ông siết cổ hổ cho đến lúc nó lè lưỡi, cái đầu mềm oặt nghẹo sang bên. Có lần ông quấn từ cổ xuống thắt lưng con trăn to bằng cổ chân, da xám như đá, mà vẫn nhẩn nha như đi chơi khiến người lớn kêu ré, trẻ con chạy tán loạn” (tr. 61). Dẫu có tài giỏi, khỏe mạnh đến mấy thì cũng không thể bóp cổ mà khiến hổ chết tươi được, chưa kể là có thể bị nó ăn thịt ngay lập tức. Cọp xưa nay mặc nhiên được xem là chúa sơn lâm, dữ dằn, ghê gớm vô cùng chứ không phải con lợn con hay con gà, mà ai muốn bắt giết thế nào cũng được!

Đàn ông, con trai Tây Nguyên xưa đương nhiên phải biết bắn nỏ (ná). Có lẽ vì vậy mà tác giả đã cho nỏ xuất hiện nhiều lần trong tiểu thuyết. Tiếc là người viết không hiểu về điều mình viết nên càng viết lại càng sai và càng… gây cười. Xin nêu một ví dụ: “Hiêm lựa tư thế thích hợp nhất: Hai chân dang ngang bằng vai. Lưng thẳng. Ngực thẳng. Hiêm lắp tên, nâng nỏ ngang tầm mắt, ước lượng khoảng cách từ chỗ đứng đến điểm giữa tấm biển xa nhất. Cánh tay Hiêm cẩn trọng kéo căng dây nỏ (…) Mũi tên lao đi như xé gió…(tr. 158). Đây không phải là tư thế bắn nỏ đã đành mà cách bắn nỏ cũng sai. Với nỏ, không ai lắp tên rồi mới kéo dây, thả dây để tên lao đi như bắn cung cả. Nhưng như thế cũng chưa là gì, vì cũng ngay trong cuộc thi này, còn có một nhân vật khác “siêu” hơn: “Đih cầm nỏ, lấy tên (…) Tiếng hô già làng vừa dứt, không cần ngắm, Đih thả luôn dây nỏ. Ba mũi tên lao đi vun vút (…) ba mũi tên chồng khít lên nhau, trúng điểm giữa của tấm biển xa nhất – một kết quả chưa bao giờ có!” (tr. 160). Vâng, đúng là “một kết quả chưa bao giờ có”, hệt như nỏ thần thời An Dương Vương! Sau tiểu thuyết này, điều đó cũng sẽ vĩnh viễn không bao giờ tái diễn. Vì mỗi nỏ có 1 khe thì không thể gắn được 3 tên; nỏ có lẫy, lên dây rồi mới lắp tên, kéo lẫy thì dây bung lên, đẩy tên đi chứ không phải như nhà văn tưởng tượng. Trong cái khung cảnh xưa của làng Chan, độc giả tiếc vì sao người viết không cho các thanh niên đi săn thú (vốn rất nhiều), mà lại bắt họ đan tấn phên, vẽ vòng tròn để bắn như trong hội thi thể thao quần chúng ngày nay vậy? Nhà văn hẳn cũng không biết rằng, nếu có thi như vậy thật thì nỏ ai nấy bắn chứ không có việc “ai đó” sắm sẵn cho “hội thi” một giàn nỏ để sẵn, ai thích cái nào thì đến lựa rồi bắn. Người ta cũng hiểu rằng, nhảy bao bố là trò chơi mới được đưa vào các hội thi văn hóa, thể thao gần đây chứ trước kia không hề có, ở cái làng Chan nguyên thủy nọ lại càng không thể có.

Sự phi phàm, nếu có thể nói như vậy còn được thể hiện ở những chi tiết khác. Suốt mấy trăm trang sách, các nhân vật Đih và Lim chơi với nhau từ nhỏ, từng lên rừng, xuống suối, tham dự lễ hội, vui chơi bên nhau nhưng cả hai đều chưa đi học (vì đã có chính quyền, có trường học đâu mà đi học). Thế rồi đùng một cái, Lim… đi học. Không phải học mầm non, tiểu học hay trung học, mà tác giả cho nhân vật lên thẳng trường y của tỉnh nội trú 3 năm. Cứ tưởng học trung cấp y thì ít nhất cũng hết lớp 12 hoặc có ưu tiên đặc biệt gì đó thì người con gái “chưa cà răng” quen việc “phát, đốt, chọc, trỉa” ấy (chữ của tiểu thuyết) cũng phải học xong lớp 9, hóa ra không phải!

Lim đi học và viết thư về làng cho người yêu, đúng thôi, vì ngày đó họ chưa có điện thoại. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn là nhân vật Đih vốn cũng chưa từng một ngày đến trường, hệt như Lim, lại có thể đọc hiểu những gì mà người yêu mình đã viết. Hơn thế, như một người rành về ngôn ngữ “lúc buồn nhớ, dù đã thuộc làu, Đih vẫn lấy thư giấu trong ống lồ ô ra, nghiền ngẫm từng từ, từng dấu chấm, dấu phẩy, chỗ xuống dòng”…

Vì sao có chuyện lạ lùng như vậy? Điều này tưởng cũng không đáng ngạc nhiên, bởi nếu cho các nhân vật trong cuốn sách được hưởng một đời sống gần với thực tế hơn về “điện, đường, trường, trạm” thì tác giả sẽ không thể có những trang tả cảnh người và muông thú sống gần gũi, đẹp như trong cổ tích nữa?

Phong tục tập quán… xa lạ

Cuốn sách này có một số đoạn liên quan đến phong tục tập quán cổ truyền của người Jrai. Đáng nói là người viết đã không xuất phát từ thực tế khi tái dựng. Bến nước hay giọt nước là một địa điểm quan trọng đối với người Jrai. Xưa kia (nay vẫn còn một số), bà con dùng nguồn nước này cho mọi sinh hoạt của mình. Để lập bến nước, cộng đồng phải trải qua nhiều công đoạn tìm kiếm khó khăn, nhưng người ta sử dụng nguồn nước ngầm chứ không phải là dùng ống nứa dẫn từ suối về như người viết đã tả.

Nhân vật bị voi quật chết, được đưa lên nhà sàn “cả gia đình ngồi quanh bên nhau, cạnh thi thể bà Mên (…) Mọi người hối hả chuẩn bị bữa cơm cuối cùng cho người chết (…) Lời khấn dứt, mọi người đứng dậy, chậm rãi đi quanh thi thể bà Mên. Mỗi người cầm một nắm cơm nhỏ, chấm vào môi người chết. Họ như ăn chính miếng cơm người chết đã ăn, như để nhớ và lưu giữ mãi mùi da thịt người đó. Nhớ và lưu giữ thật lâu trong kí ức” (tr. 54, 55, 56). Người Jrai truyền thống (như làng Chan trong sách) dù có thương xót đến mấy cũng không bao giờ cho phép đưa thi thể của những người chết vì rắn cắn, hổ vồ, cây đè,… hoặc như trường hợp này là voi quật chết, vào nhà. Bà con gọi đó những cái chết bất thường, họ có cách ứng xử riêng rất nhân văn nhưng nhất định là không giống như những gì nhà văn đã viết. Việc chấm cơm vào miệng người chết “để nhớ và lưu giữ mãi mùi da thịt người đó” vì vậy, đương nhiên cũng không thể xảy ra, như đã dẫn.

Cảnh đâm trâu trong lễ cầu mưa: “Giữa tiếng cồng chiêng thúc giục rộn rã, tiếng dân làng hò reo nghiêng trời dậy đất già Duch xuất hiện như một tráng sỹ oai phong. Già cầm cây lao nhọn hoắt, ánh thép sáng quắc (…) nhá thử, nhá thử mấy lần rồi bất thình lình, nhoằng một cái, mũi lao cắm đúng ngực con vật. Trâu lảo đảo, máu tuôn ra nóng hổi (…) Tốp thanh niên cởi trần, đóng khố (…) đã thủ sẵn lao, mác phóng vào trâu tới tấp. Các mũi lao thi nhau xuyên qua cổ, dính trên lưng, giắt dưới bụng, găm trên đầu… Thực ra, mũi lao đầu tiên của già Duch đã lấy đi cuộc sống của trâu rồi. Phần còn lại để các chàng trai thể hiện sức mạnh và luyện tập sự chính xác mà thôi”…

Người viết gọi việc đâm, chém thêm kể trên là để “thể hiện sức mạnh và luyện tập” hay “chiến công chói lọi”, chúng tôi không bàn. Chỉ xin nhắc rằng, trong nghi lễ đâm trâu truyền thống, người Jrai xưa không có thói đâm thêm chém bồi loạn xạ như vậy, sau khi mũi giáo chính xác đầu tiên đã được thực hiện. Vì lẽ đó mà người đâm trâu giỏi là người chỉ đâm một nhát và luôn được cộng đồng quý trọng.

Ngây ngô không thể là Tây Nguyên

Chúng tôi thấy trong sách này nhiều dòng khôi hài, xin dẫn một số trường hợp:

Diễn đạt một sự việc nguy hiểm, cấp bách, tác giả sáng tạo “thành ngữ mới”: “Tình thế như chiêng treo bếp lửa”. Người Jrai không bao giờ treo chiêng gần bếp. Bếp lửa và chiêng không hề liên quan gì đến sự cấp bách hay nguy hiểm cả. Tả tâm trạng một người con trai đi tìm thăm người yêu, tiểu thuyết viết: “Con trai tìm con gái, khác gì cỏ tìm hổ”. Người Jrai theo mẫu hệ, nữ cưới nam nhưng trên thực tế, phần lớn đàn ông vẫn giữ vai trò chủ động trong tìm hiểu bạn đời tương lai. Không rõ cỏ và hổ thì có quan hệ như thế nào trong hình ảnh này?

Cố gắng tạo màu sắc dân tộc, tác giả đã có khá nhiều câu “gây sốc”, kiểu như “tiếng nói dai nhách như dây buộc củi”, “nước cha nước mẹ đi vắng rồi còn nước con thôi” hoặc “như con chuột thối chí trong hang” nhưng có lẽ việc đặt ngôn ngữ hiện đại vào miệng những đứa trẻ chưa từng ra khỏi cộng đồng của mình bao giờ còn đáng nói hơn: Tả hai đứa trẻ giao kèo với nhau việc gì đó, người viết cho các nhân vật ngoéo tay nhau còn khi chúng giận dỗi, không chơi với nhau nữa thì “o xì”. Chúng tôi không chắc ngoéo tay là thói quen của người Jrai xưa nhưng rõ ràng “o xì” là một từ mới không phải của trẻ em làng Chan trong tiểu thuyết này.

Cũng như vậy, những đứa trẻ ở làng xa, mới độ dăm bảy tuổi đã ăn nói rất chững chạc, văn chương đến lạ lùng: “Sao cứ bám theo tui, làm hồn tui bay mất! Tui bảo tránh xa mà! (…) Tui có trách nhiệm phải nghe à? Phải trả lời à? (…) Thế sao theo tui? (…) Em không có theo. Tại cái chân theo thôi. Mà sao… sao… anh đi một mình? (…) Tui thích đi một mình. Ảnh hưởng đến mày à?” (tr.14, 16).

Trẻ em thì như vậy, nhưng người già thì lại vô cùng “hồn nhiên”. Tả cảnh các già làng thực hiện một nghi lễ cúng, trong đó có dùng “đồng bạc” tung lên trời, như kiểu xin âm dương rất xa lạ với phong tục Jrai (?), đến khi việc được như ý thì: “Bất chợt, những tiếng kêu to bật ra khỏi vòm họng (…) Các già ôm chầm nhau, vung tay, nhãy cẫng, cúi gập người, ôm bụng, cười nói, gào to hú hét…”. Việc cúng tế ở các làng không hề xa lạ đối với người già, nếu không muốn nói là thường xuyên xảy ra nên họ đã quen. Các già làng luôn là người từng trải, chín chắn, dù có vui mừng đến mấy họ cũng sẽ không “gào to hú hét” vô lối như vậy.

Thay vì dùng từ “cha” gần gũi thì trong sách, người viết dùng từ “bố” mang âm hưởng miền Bắc. Nhưng có lẽ việc không hiểu cách xưng hô của người Jrai đã khiến tác gia đi xa hơn trong sự… sai. Đó là khi xưng hô hay nói chuyện, các nhân vật đã có con luôn được gọi bằng chính tên “cúng cơm” của họ, ví dụ: Duch, Duang hoặc Puih Thin, Kpuih Lon,… Trên thực tế, giống như người Kinh ở một số vùng của miền Bắc, người Jrai luôn gọi tên con đầu thay vì kêu tên người cha hoặc tên người mẹ ấy. Khi người đó có cháu, tên cháu sẽ được dùng thay tên con.  Không hẳn kiêng cữ, nhưng đó là một truyền thống lâu đời, giống như ama Thuột (tên thành phố) vốn có thể dịch là “cha (của) Thuột”, trong ngôn ngữ Ê Đê.

Số phận những người dân làng Chan sẽ ra sao trong cuộc sống mới này? Liệu trồng cao su có phải là một giải pháp hay, có thể thay thế cho những diện tích rừng đã mất, giúp khôi phục được phần nào các giá trị văn hóa cổ truyền hay không? Người đọc không tìm thấy những câu trả lời ấy trong tác phẩm Pơthi. Nhưng hẳn là như chúng tôi, độc giả tin tác giả Thu Loan là người yêu quý văn hóa Tây Nguyên, ít nhất trong 380 trang của cuốn sách này. Nhưng cách yêu của chị không đúng, hoặc chính xác hơn là chị đã không đủ khả năng để làm cho người khác tin và yêu theo mình. Đó có thể xem là thất bại của tác giả, cũng là thất bại của chính cuốn sách này. Sự viết không đúng nhiều sự việc, chi tiết ấy, đương nhiên bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, chủ quan và nhất là viết liều về một lĩnh vực mà bản thân không am tường. Thành ra, không những không làm được cái điều bản thân mình mong muốn là giữ gìn những nét đẹp riêng có cho vùng đất ấy, mà dường như Thu Loan còn góp phần làm cho nó méo mó thêm trong mắt người đọc, nhất là những người ngoài Tây Nguyên, chưa từng biết đến Tây Nguyên. Khép lại bài viết ngắn này, với tư cách là một người có nhiều chục năm sống tại Tây Nguyên, chúng tôi thực sự bày tỏ sự thất vọng về cuốn sách.

Nguyễn Quang Tuệ

---

*. Đọc tiểu thuyết Pơthi của Thu Loan, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2014. Đây là bản gốc, bài đã in trên báo Văn nghệ Công An, số 264 (364), ngày 19/11/2015 ngắn hơn.

Mời theo dõi những trao đổi xung quanh cuốn sách này trên FB của NQT, tại: https://www.facebook.com/mrtue2011

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 332 / 68
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
  • Không có
Tin cũ hơn
  • Không có