CAFE TIN NHAN|CO NUOC CO SU SONG CON NGUOI | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku

 

      (Bài viết được giữ nguyên sự trình bày của tác giả, một người yêu văn hóa Jrai) 

Giữa rừng núi trùng điệp Tây nguyên miền trung Việt Nam, cộng đồng người Jrai thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo đã có mặt từ  rất lâu đời cùng với những cộng đồng khác trong nhóm ngôn ngữ Nam Á. Lịch sữ của người Jrai gắn liền với từng dòng thác nước hùng vĩ trắng xóa đong đưa qua lại trong gió như suối tóc của những nàng H'bia trong huyền thoại. Quá khứ của họ gắn bó mật thiết với từng con suối nhỏ róc rách chảy lượn quanh các chân đồi và thung lũng tạo nên những đường viền chia cách đất với trời, phân ranh thế gíới con người với thế giới thần linh. Mặc dù sống giữa rừng già với những dãy núi cao bao quanh, người Jrai có một cái nhìn về nước rất gần gũi hơn rừng núi và nước đã chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời thường và đời sống tâm linh của họ.

 

Nước và sự sống đầu tiên của con người .

Trong huyền thoại Ơi Hơgor Yă Hơgor, " ông Trống bà Trống", được người Jrai kể lại, một cơn đại hồng thủy đã xảy ra xóa sạch mọi sự sống trên mặt đất. Sau cơn thiên tai, duy nhất chỉ còn sống sót một đôi trai gái hai anh em ruột nhờ trốn núp trong một cái trống to. Họ được coi là tổ tiên của con người và từ họ đã sinh ra những người con đầu tiên là tổ phụ của các họ chính trong cộng đồng người Jrai. Có dị bản khác người con gái sống sót với con chó của mình. Điểm nhấn quan trọng ở đây là người phụ nữ với khả năng trời ban là truyền sinh.

Đại hồng thủy được nhìn như mốc điểm thời gian người Jrai được tạo dựng trên mặt đất. Trong những lời cầu khấn mỗi dịp dâng cúng thần linh (yang) người Jrai thường kêu gọi đến Ông Trống Bà Trống để cầu xin sự giúp đở, che chở trong cuộc sống đời thường, nhất là cho sinh linh những người đã chết, atau, được đón nhận vào sống trong thế giới khởi nguyên của tổ tiên sau lễ bỏ mả. Nhìn một cách khác nước đại hồng thủy đã tạo dựng nên con người, đã đem sự sống đến trần gian, là nguồn gốc đầu tiên và điểm đến cuối cùng của một đời người. Ý niệm này được diễn tả rất rõ nét trong nghi thức đón nhận một bé thơ mới sinh và đưa tiễn một người chết vào lòng đất lạnh. Với em bé sơ sinh, bà mụ làng thấm một giọt sương mai đọng trên cành lá lên ngón chân cái và môi em bé trước khi cho cắn sắt hay cầm cần rượu và được thổi vào tai để biết sống có ích cho mình và cộng đồng. Biểu tượng trên như nhắc nhỡ cho mỗi con người: "hỡi người, hãy nhớ ngươi là nước, sau này sẽ về với nước". Trong nghi thức chôn người chết, một chiếc bầu đựng đầy nước trong mát được bỏ lên trên quan tài trước khi lấp đất như dấu chỉ cùng với nước sinh linh người chết bước sang một thế giới mới để tiến về gần với cội nguồn nơi từ đó đã đến làm con người và hai ngón chân cái người quá cố được cột lại với nhau, đầu được úp chụp một chiếc tô sành để nói lên sự sống con người không còn nữa. Hành trình về với cội nguồn phải vượt qua nhiều chặng trong trạng thái vật chất để khi đến chặn cuối là giọt sương mai đọng trên cành lá và khi mặt trời mọc lên sẽ bốc hơi hòa nhập vào vũ trụ bao la. Với cách nói dân dã và không ít nhiều bị ảnh hưởng bởi văn hóa tín ngưỡng dân gian người Kinh, nhiều người giải thích một cách vội vã rằng sau lễ bỏ mả sinh linh người chết sẽ về sống với tổ tiên nơi có một cuộc sống vĩnh hằng. Với người Jrai, sau hình thái cuối cùng là giọt sương mai sẽ không còn gì cả.

Trong nhiều truyện kể dân gian người sống vì thương nhớ người chết đã lên đường tìm lại người đó. Họ đã gặp sinh linh người quá cố sống giữa những người chết khác trong một làng. Khi được dẫn về lại cuộc sống trần gian, câu truyện nào cũng kể rằng khi đến gần một dòng thác, sinh linh người chết cảm thấy một nổi buồn nhớ trào dâng mãnh liệt thúc dục phải quay về nơi mình ở trong thế giới người chết, thế giới người sống không còn là niềm mong đợi, ước vọng của sinh linh. Thác nước reo vang nhắc nhỡ, gọi kêu sinh linh người chết hãy quay lại và tiếp tục chặn đường của mình để đi về phía trước hướng đến cội nguồn là nước như một nhu cầu và quy luật tự nhiên.

Nước là mẹ, là sự tươi mát trìu mến, là ánh sáng dịu êm của mặt trăng, là màu trắng tinh nguyên, là ban đêm sâu thẳm. Pơtao Ia, vua Nước được biết đến với những ý tưởng trên, sự hiện diện và cuộc sống của ông trong cộng đồng Jrai âm thầm không năng nổ sinh động như Vua Lữa, giống như vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng tuy thầm lặng khuất lấp nhưng ảnh hưởng gián tiếp trên mọi sinh hoạt và quyết định của nhóm già làng.

Trong tín ngưởng vạn vật hữu linh, Thần Nước (yang ia) và nhiều vị thần khác được biết đến dưới hình ảnh một người phụ nữ. Hằng năm Thần Nước được người Jrai cúng tế rất thành kính vào những ngày đầu mùa mưa để mong người ban cho dân làng một mùa bội thu, mưa thuận gió hòa, sức khỏe dân làng dưới sự bảo trợ của Thần được dồi dào và nhất là không bị dịch bệnh hoành hành giết chết nhiều người hàng loạt. Trong dịp này dân làng cùng nhau sửa lại giọt nước làng, tổ chức cúng tế Thần Nước, nguồn của sự sống con người.

Truyện dân gian Jrai kể có một chàng thanh niên con nhà giàu có, khi đến tuổi trưởng thành luôn bị ám ảnh bởi sự chết. Cái chết làm anh lo sợ. Ngày nọ anh quyết định lên đường tìm sự sống đời đời, anh lang thang hết nơi này đến nơi khác nhưng đâu đâu cũng thấy sự chết hiện diện. Cuộc lữ hành tìm kiếm sự sống bất diệt đã làm hao mòn thân xác, làm kiệt quệ sinh lực để một ngày nọ anh ngã gục tắt thở bên bờ một dòng suối. Con gái Thần nước một hôm ra khỏi nơi mình cư ngụ để đi dạo, cô ngạc nhiên khi thấy một thân xác đang thối rữa phủ đầy ruồi nhặn. Mùi hôi thối bao trùm một không gian rộng. Cô quay về gọi mẹ đến xem và hỏi vì sao có sự chết. Mẹ cô ôn tồn trả lời vì họ là con người nên phải chết. Cô gái động lòng trắc ẩn xin cha cho mình làm cho người chết sống lại. Mẹ cô đồng ý, cô gái cởi váy mình đang mặc quơ qua lại trên xác chàng thanh niên và chàng được cứu sống. Khi hỏi rõ sự tình chàng trai ôm chặc chân cô gái quyết không rời xa để mai này khi chết cô ta sẽ làm cho sống lại. Để giải quyết sự việc cô gái vót một thanh cây nhỏ đóng vào đỉnh đầu chàng trai để từ ngày ấy có một con người bất tử. Chàng trai sung sướng tìm đường quay về làng. Sự sống bất tử lúc đầu đã đem đến cho chàng nổi niềm thích thú và hạnh phúc nhưng thời gian trôi và cứ trôi qua, chàng trai bất tử cảm thấy rất đau khổ vì phải chia tay với người thân, với vợ con, với bạn bè khi họ chết. Cuối cùng không còn chịu nổi cuộc sống bất tử đầy buồn đau của kiếp người, chàng trai từ bỏ làng và vào sống trong nghĩa trang để mong tìm cái chết. Bà Thần Cây Đa trong nghĩa trang đã khám phá ra nguyên nhân của sự sống bất tử, bà rút đoạn cây nhỏ ra kéo theo sự sống, chàng trai đón nhận cái chết trong vui mừng và hạnh phúc.

 

Nước và thân xác con người

Người Jrai quan niệm sự sống của con người được hình thành dần dần trong thân thể người phụ nữ với sự gắn bó hội tụ tất yếu của ba yếu tố : người phụ nữ, người đàn ông và yang "thần linh". Thiếu một trong ba yếu tố trên không thể tạo thành sự sống con người hoàn hảo. Người phụ nữ được người Jrai ví như một dòng nước đọng và người đàn ông là một dòng nước chảy như câu ca dao đahrơkơi ia ro, đahkơmơi ia dŏ. Hình thể sinh lý của một thai nhi theo quan niệm của người Jrai được hình thành từ từ, dần dần qua những lần quan hệ tình dục giữa người đàn ông với người phụ nữ. Họ tin rằng sau mỗi lần quan hệ chăn gối một chi tiết của hình thể thai nhi được tạo thành bởi "ia nơt" (tinh trùng), một chất nước xuất phát từ trong xương tủy của người đàn ông qua đó người Jrai có câu nói: lě mơng tian ama, mơng pha ami. Quan niệm này được giải thích và minh chứng qua những vụ xữ kiện khi một người phụ nữ có thai nhưng chưa hoặc không có chồng. Gia đình và cộng đồng sẽ tra khảo để người phụ nữ đó phải khai ra đã quan hệ tình dục với ai, tại đâu và bao nhiêu lần. Dựa vào lời khai đó người xữ kiện "pô phat kơđi" sẽ quyết định mức độ phạt vạ vì sự kiện này làm ô uế (čơlơm) không gian sống của làng, làm cho các thần linh cư ngụ trong làng nổi giận nhất là thần giọt nước và thần nhà rông. Sự ô uế này là nguyên nhân của hạn hán, mất mùa, dịch bệnh...Bắp sẽ không có trái, lúa không có hạt, dưa cà chín héo úa vàng. Cô gái và những người đàn ông có dính líu sẽ phải nộp của lễ để thanh tẩy (pơkra) sự ô uế. Người gìn giữ các linh vật trong nhà rông (pô wai yang)lấy máu của con vật hiến tế rảy trên tất cả các trụ nhà, sau đó ông ta tắm các linh vật bằng chính máu đó. Nếu trường hợp trong lời khai có nhiều người đàn ông, số lần quan hệ tình dục sẽ quyết định mức phạt vạ cho mỗi người. Người nào quan hệ nhiều lần được hiểu như đã tạo thành nhiều bộ phận sinh lý của thai nhi cho dù những lần đó đã xảy ra từ lâu nhiều khi hơn hai ba năm.

Nếu người đàn ông được coi là tác giả của hình thể sinh lý thai nhi thì người phụ nữ  mang trên mình đặc quyền là tạo thành sự sống con người. Người phụ nữ cưu mang thai nhi trong thân thể mình và truyền ban cho thai nhi sự sống bằng chính máu của mình. Máu của người phụ nữ như một dòng nước đọng tinh khiết, tư riêng và thuần nhất Một thai nhi có thể có nhiều cha nhưng chắc chắn và duy nhất chỉ có một mẹ. Máu được hiểu là phương tiện truyền dẩn sự sống, chính vì thế trong những lần cúng tế cho thần linh "yang" hoặc cho sinh linh những người đã chết "atau" người Jrai thường dùng máu và gan con vật hiến tế để dâng cúng. Máu tượng trưng cho sự sống của chính con vật đó và của lễ dâng cúng luôn luôn phải là sự chết của một động vật có máu sống trên cạn do con người nuôi. Quan niệm này cũng giải thích phần nào về chế độ mẫu hệ của người Jrai, người con được sinh ra luôn luôn mang họ của mẹ. Các con gái tiếp tục sứ mệnh truyền sinh bằng chính dòng máu, bằng sự sống của người mẹ chúng đã thừa hưởng.

Sau khi thai nhi chào đời, sự tham gia của yang quyết định cho thai nhi đó được sống một đời sống con người giới hạn bằng sự chết. Người Jrai tin rằng ngay sau khi một em bé được sinh ra vị nữ thần "yă Bôt", vị thần sống trong cây da ở nghĩa trang đến viếng thăm và ban cho em bé đó một số mạng hay đúng hơn cùng với em bé ấn định thời gian làm con người của em bé đó trên trần gian. Yă Bôt được truyền kể với những tên khác là yă Bơnŭ "nữ thần cây đa" và yă Hra "nữ thần cây sung". Truyền thuyết kể rằng khi yă Bôt đến thăm, bà đặt ra nhiều câu hỏi với em bé sơ sinh : sau này ngươi sẽ chết vì bệnh tật? Sau này ngươi sẽ chết vì bị ngã cây? Sau này ngươi sẽ chết vì rắn cắn? Sau này ngươi sẽ chết vì dao gươm?...Sau một câu hỏi nào đó nếu em bé sơ sinh đồng ý, với mắt thường ta thấy em "mỉm cười" bằng động tác co giản mép miệng có nghĩa là em bằng lòng với số mệnh đó. Yếu tố thứ ba này là bơngat (bóng hồn) sau hai yếu tố máu và thân xác trong một con người, bơngat có thể tạm dịch là bóng hồn vì nó mang hoàn toàn hình dáng của thân xác con người, là thần tính hay tính thần linh cư ngụ trong thân xác phàm tục. Bơngat có thể rời thân xác để rong chơi, có thể vào nơi cư ngụ của thần linh hoặc xứ sở của các hồn ma, sau đó quay lại nơi mình cư trú, nơi thân xác con người. Ðiều này giải thích các giấc mơ của con người khi ngủ, tất cả những tình tiết của giấc mơ là những sự việc bơngat gặp khi ra khỏi thân xác. Nếu một ngày nào đó bơngat không quay về thân xác hoặc không thể quay về vì những tai ương nguy hiểm gặp phải khi rong chơi sẽ làm cho thân xác yếu đuối : nguyên nhân của bệnh đau. Nếu bơngat ra đi vỉnh viển thân xác cư trú của nó sẽ hư nát hay nói cách khác đó là sự chết của con người hay thời gian ấn định bơngat cư trú trong thân xác bởi vị nữ thần yă Bôt khi đến viếng thăm đã hết. Con người đã tới số chết. Thường khi một người bị bệnh, sau khi gia đình dâng cúng cầu xin nhưng không khỏi họ phải chạy tìm sự giúp đở của những thầy cúng "pơyau". Bơngat của những người này có thể liên hệ, giao tiếp với những thế giới vô hình mà không sợ nguy hiểm. Bơngat của các pơyau có thể ra khỏi thân xác mình một cách ý thức để đi tìm bơngat của người bệnh và dẫn đưa về lại trong thân xác họ. Những người pơjau này đã được gội tắm trong thác nước của bà yă Čao, của bà yă Nơm, những vị nữ thần của thế giới pojau,  khi đến đây học nghề. Nước đã gột rửa biến đổi họ từ một con người phàm tục yếu đuối trở thành tinh khiết thần thiên và mạnh mẻ hơn với nhiều quyền lực siêu nhiên. Số mệnh của mỗi người, nguyên nhân sự chết của mỗi người, sự ra đi của bơngat không chỉ là những nguyên nhân, những tai nạn cụ thể khả nghiệm trong đời sống đời thường mà còn là những nguyên nhân vô hình xảy ra trong những lần bơngat ra khỏi thân xác. Ban đêm khi nghe tiếng chim heo (asâu rơngit) kêu trên không, cha mẹ ông bà vội gọi bơngat của con cháu mình về lại cơ thể. Nếu về không kịp thì phải trốn vào những bụi gai (kram h'bia)để chim không bắt được.

Yă Bơnŭ vừa là người đem đến cho mỗi người một số mệnh, vừa là người cai quản sinh linh những người chết còn sống trong nghĩa trang. Trong nhiều câu truyện dân gian, chim chóc sống trên cây da trong nghĩa trang là hình ảnh của những sinh linh đã chết. Trong bài viết của Jacques Dournes, người nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng Jrai, dưới con mắt của atau người sống là chim bay trên trời và ngược lại dưới con mắt người sống người chết là chim, là thú. Theo ông sau khi một hồn ma được làm lễ bỏ mả,  họ đến gặp vị nữ thần Vú dài ( Yă dung dai tai tơsâu), bà này sẽ giúp cho họ qua một con sông để về với tổ tiên.

"Truyện dân gian kể: ngày xưa có chàng trai tên Hrit ngồi nghỉ mệt gần gốc một cây da trong nghĩa địa làng, anh ta bổng nghe tiếng bước chân đi đến và nghe được câu chuyện đối thoại của hai người đàn bà, một người là thần cây da "yă Bơnŭ" và bà kia là thần cây sung "yă Hra".

Ơ bà Cây Sung ơi, tội nghiệp cho cô bé mới sinh trong làng quá. Cô bé rất xinh nhưng số mạng cô ấy thật không tốt.

Ta biết làm thế nào khác được, số cô bé ấy sẽ phải chết vì hổ vồ khi đến tuổi trưởng thành.

Khi ấy Hrit thấy hai bà lão đi đến cây da và biến mất vào cây này. Chàng trai tốt bụng đi về làng và nghe dân làng nói lại có một người đàn bà trong làng vừa mới sinh một cô con gái rất xinh. Hrit không kể cho ai nghe câu chuyện đối thoại của hai vị thần mà tình cờ chàng đã nghe, Hrit chờ cô gái trưởng thành và xin cô lấy mình làm chồng với mục đích sẽ giết con hổ để cứu mạng sống của cô. Lúc nào Hrit cũng ở gần bên vợ mình với thanh gươm bén. Ngày nọ hai người vào rừng hái lá, thình lình một con hổ rình núp sau bụi cây phóng chụp cô gái. Nhanh hơn hổ Hrit vung gươm và giết chết con ác thú trước khi nó kịp làm hại vợ mình. Chàng trai rất hớn hở vui mừng vì đã cứu được cô gái và nhất là đã giải hóa được mệnh số của cô. Sau khi cùng dân làng chia nhau thịt hổ, Hrit cắt giữ chiếc vuốt bén nhọn và nhét cất dưới mái tranh trong nhà. Ngày nọ cô gái ở nhà một mình để dệt chiếc váy mới. Sau nhiều lần giật mạnh để ép chặt các đường chỉ dệt trên khung cưỡi bất ngờ chiếc móng hổ tuột rơi xuống đâm vào bụng và đã giết chết cô gái. Số phận của cô kết thúc đúng như hai vị nữ thần đã báo.

 

Sương mai.

Theo phong tục của người Jrai, sau khi em bé mới sinh ra, bà mụ làng "pơjau pơanăn" cắt cuốn rốn và cột vào cổ tay trái em bé một sợi chỉ nhỏ màu trắng với ý muốn báo cho yang là em bé nay đã là con người, yang đừng bắt đi mạng sống của nó. Sau đó khỏang vài ngày, gia đình sản phụ tổ chức nghi thức thổi tai "hluh tơngia" (thổi tai) cùng với nghi thức kăt pơnăn (đặt tên) để tạ ơn bà mụ.

Lời cầu của bà mụ trong nghi lễ thổi tai sau đây giúp ta hiểu rỏ hơn:

Sa dua klâu pă rơma năm tơjuh.                       Một hai ba bốn năm sáu bảy

Anai kâu iâu yă Bôt yă Bưng.                                    Tôi cầu bà Bôt, bà Bưng

 Hluh amăng tơngia iau brơi thâu kơ bruă.                  Tôi thổi tai trái để nó biết làm việc

Hluh amăng tơngia gah nuă brơi thâu kơ hmua...       Tôi thổi tai trái để nó biết lo nương rẩy...

Trong dịp này gia đình sum họp đông đủ để đặt tên cho em bé. Trong nghi thức này bà mụ  hứng sương mai đọng trên lá và bôi lên ngón chân cái và thấm vào miệng của bé sơ sinh cùng với nghi thức cho em bé cắn sắt "kě pơsơi" để trong tương lai em bé có một sức khỏe tốt, ít bệnh tật đau ốm cùng với những nghi thức có tính biểu tượng khác. Nghi thức thổi tai bằng ống lồ ô nhỏ nhúng vào nước trong ghè rượu để em bé biết suy nghĩ, biết chăm chỉ làm ăn, biết sống với bà con và cộng đồng. Lúc mới sinh ra em chưa được coi thật sự  là một con người như mọi người khác. Điều này được giải thích qua nghi thức chôn cất một em bé sơ sinh bị chết, nếu em bé chết trong thời gian một hai ngày sau khi ra đời, người trong gia đình chôn em một cách âm thầm ngòai phạm vi nghĩa địa làng hoặc chôn bên cạnh mồ mả ông bà đã làm lễ bỏ mả trong nghĩa trang cũ. Trong đám tang không có cồng chiêng, gia đình không được khóc và không chia của (pơtui) cho em bé đã chết cũng như không nuôi hồn ma của em (rong pơsat, čem asơi ăk). Sau khi chôn, trên mặt đất không có dấu vết của một nấm mồ, em bé được coi là bị chết dữ (djai rơyĭ rơyăng) và em chưa được thừa nhận là con người. Ngược lại nếu em bé sơ sinh chết ba bốn ngày sau khi chào đời và đã được thổi tai, em được coi như là một con người, thi hài của em được chôn trong nghĩa địa làng và nghi thức chôn cất như khi chôn một người chết bình thường, sau đó gia đình tiếp tục nuôi hồn ma "rong atau"của em cho đến ngày làm lễ bỏ mả "pơthi". Trong nghi thức chôn người chết, gia đình đặt trên quan tài một bầu nước trong để sinh linh người chết đem sang nơi ở mới. Hình ảnh này gợi nhớ lúc di chuyển làng hoặc thay đổi chổ ở, những người phụ nữ Jrai đem theo một bầu nước trong đến nơi sẽ làm nhà trong tương lai, họ đặt bầu nước nơi đó sau mới quay về nơi ở củ để chuyển di vật dụng. Ðể chọn một khu đất mới cho làng, việc đầu tiên của nhóm những người già làng là tìm cho được nguồn nước tốt, sau đó hỏi ý kiến thần nước nếu vị ấy đồng ý cho dân làng đến ở. Nếu câu trả lời là không, qua cách bói ném rựa, cho dù giọt nước ấy có trong và lớn họ cũng bỏ để đi tìm nơi khác. Trong ca dao truyền khẩu người Jrai thường nói: hmâu ia hmâu mơnuih. Hmâu rông hmâu plơi. Tạm dịch : Nơi nào có nước nơi đó có sự sống con người, nơi nào có nhà rông nơi ấy là làng.

Sự sống của một con người còn được biểu hiện qua ai của người đó. Ai được hiểu như sức sống, sức mạnh sự sống của mỗi con người. Trong truyện cổ ai được diễn tả như  một chất lỏng và gió phát ra từ một chiếc quạt. Các anh hùng trong truyện cổ thường tìm phá những chất nước cất giấu trong các ống tre là sức mạnh, sức sống của địch thủ. Một khi ai của người đó bị phá hủy, anh ta sẽ trở nên yếu đuối và sẽ bị đánh bại. Trong đời sống đời thường, khi một người bị bệnh kiệt sức quá yếu, gia đình nhờ pơjau đến cúng kéo sức sống trở lại (rĭ ai) bằng con dao cùn bọc trong lá và nhúng vào nước của ghé rượu cúng.

Sau khi chết, sinh linh người chết (atau) tiếp tục sống một sự sống khác trong thế giới các hồn ma (car atau) trong nghĩa trang dưới hình dạng chim quạ, chính vì thế phong tục đem cơm nước hằng ngày cho người chết gọi là rong pơsat (nuôi hồn ma), đồng thời cũng gọi là čem asơi ăk, "đem cơm cho quạ". Người Jrai tin rằng con người có nhiều sự sống trước khi về với thế giới của tổ tiên hay hòa vào với vũ trụ. Hình ảnh sự sống thứ hai sau đời sống con người là chim quạ (cim ăk), sự sống thứ ba là bộ xương (tơlang), sự sống thứ tư kế tiếp dưới hình ảnh than củi (hdang) , sự sống thứ năm trong hình ảnh con sắc sành ( kơtop), sự sống thứ sáu trong hình dáng con dế (klir), và hình ảnh của sự sống cuối cùng là giọt sương (ia ngôm). Người Bahnar và người Rhađê cũng có cùng những quan niệm trên về những giai đoạn sống của một con người. Hình ảnh các chặng sống được diễn tả bằng một cách khác, nhưng điểm tương đồng là cuối cùng con người biến thành sương mai. Khi trên trần gian người sống tiến hành lễ bỏ mả, cùng lúc ấy trong xứ người chết, các atau trong mả đó kéo nhau vượt một con sông để về nơi ở của tổ tiên từ nước đại hồng thủy đến. Hình ảnh tượng trưng ấy muốn nói con người sau khi trải qua các giai đoạn sống sẽ quay trở về nơi mình đã xuất phát. Vượt con sông để được hòa vào với nước, biến thành nước. Dưới mắt người sống họ biến thành những giọt sương lóng lánh chiếu sáng trên các ngọn cỏ.

 

Nước với cuộc sống đời thường và trong niềm tin của người Jrai.

Thần nước "yang ia" giữ  vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh đời thường của người Jrai. Mọi sự xúc phạm đến các nguồn nước, làm ô uế nước sẽ là nguyên nhân của nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Thường khi các vụ xữ kiện không đạt kết quả người Jrai và nhiều tộc người khác trên Tây nguyên thường nhờ đến Thần nước phân xử. Người xử (pô phat kơđi) dìm hai người cùng lúc ngập trong dòng nước sau khi đã cầu khấn thần linh, người nào trồi lên trước người đó là thủ phạm, là có lỗi. Nhiều người kể lại rằng khi bị dìm trong nước họ thấy một con quái vật hung dữ bơi đến nhe răng hăm dọa muốn cắn giết họ vì thế họ hoảng sợ phải trồi lên.

Trong đời sống đời thường của người Jrai, nước còn là biểu tượng của sự tinh khiết. Nước của những dòng thác có khả năng tẩy sạch những sự ô uế nơi con người. Theo phong tục nếu người nào tham gia những đám tang của những người chết dữ, họ phải tắm mình trong dòng thác và chòang trên vai một mảnh vải màu trắng khi quay về. Khi một người đi vắng lâu ngày trở về với gia đình, trong nghi thức đón mừng người nhà cho người đó đạp trên sắt, biều tượng của sự mạnh mẽ khỏe mạnh. Ðạp trên bông tượng trưng của sự bình an, đạp trên trứng gà biểu tượng của sự sung túc. Trước khi vào nhà người đàn bà chủ nhà đổ nước trên chân của người được nghênh đón với ý nguyện mong cho người đó luôn sống trong sự may mắn hạnh phúc, thân xác luôn tinh khiết và tươi mát.

Nước gắn liền với đời sống đời thường và trong tín ngưởng của người Jrai. Ðể định vị nơi cư trú, nơi khai nương phát rẩy người Jrai dùng tên con suối gần nhất để nhận biết, tên những con suối như tên đường trong các thành phố.

Lê Quang Lâm

Sách tham khảo.

Bernard Yves Jouin:

La mort et la tombe. Paris institut d'ethnologie

 Dournes Jacques :

Coordonnées Jörai Structures familiales et sociales. Institut d'ethnologie, Paris.

"La mort est l'autre"

Emile Kemlin 

Les songes et leur interprétation chez les Rongao

Lê quang Lâm

"Hành trình của Bơngăt. Quan niệm về sự sống và sự chết trong cộng đồng ngừi Jrai"

"Hệ thống Pơjau trong cộng đồng người Jrai"

Truyện cổ dân gian Jrai (tập 1,2,3)

Mircéa Eliade

Le sacré et le profane. Editions Gallimard

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 1 / 1
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn