NGUYEN NGOC RUNG|DUONG CHUNG TA DI | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku
( 22:26:59 27-08-2012 )

Nhà văn Nguyên Ngọc có mặt ở Tây Nguyên từ 1950. Sau tập kết, ông trở lại miền Nam (Khu 5, Gia Lai, Kon Tum,...) năm 1962, với bút danh Nguyễn Trung Thành. Để nhớ lại một thời chưa xa, pleikucafe.com xin trích giới thiệu tùy bút Đường chúng ta đi của tác giả.

 

 

 

Đêm nay là một đêm chuẩn bị. Ngày mai chúng tôi sẽ ra trận.

Chúng tôi đóng trong làng. Bây giờ đã khuya, bốn bề đều im lặng. Cho đến ngôi sao xa ngoài khung cửa cũng đứng im, lóng lánh như giọt nước mắt vui lặng lẽ của người vợ ở quê ta gặp chồng sau mười năm trời gian lao và cách biệt. Gió se lạnh, thoang thoảng hương lúa lên đòng, thơm như sữa một người mẹ trẻ.

Tôi nằm đã lâu, không ngủ. Không sao ngủ được. Có gì đấy, vừa êm ả vừa trào sôi đang dậy trong lòng tôi, người lính đêm nay.

Sáng mai chúng tôi sẽ ra trận. Đội trưởng của chúng tôi nói:

- Ngủ đi, ngủ cho ngon. Mai sẽ làm một trận tiêu diệt thật gọn!

Tôi nghe lời, nhắm mắt, rồi mở mắt, không ngủ được. Sáng mai chúng tôi sẽ ra trận. Tôi bồi hồi suy nghĩ vì việc đó ư? Không, tôi là một người lính cũ. Trong đời tôi, đêm nay là đêm chuẩn bị ra trận lần thứ bao nhiêu rồi, cũng không còn nhớ rõ. Điều gì đây? Có gì đây đang trào dậy trong lòng tôi, như một linh cảm mơ hồ, như một hơi men say, một cơn sóng ngầm xao động ở tận chỗ sâu kín của tâm hồn.

Thường vẫn vậy đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả. Chỉ là một giọng hát. Đội trưởng chúng tôi vừa tắt đài. Trên đài, một người con gái nào đó vừa hát một bản dân ca của đất nước trong đêm khuya. Bây giờ tất cả im lặng rồi, giọt sao ngoài khung cửa đọng lại, đứng im, không nháy nữa, đêm đã đi vào chiều sâu, mà vẫn còn nghe âm vang mãi giọng hát của người con gái lúc nãy. Một giọng hát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc tinh nghịch, duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng... Có lẽ không phải là một người con gái đã hát trên đài. Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát. Tiếng ngân nga dội lên từ lòng đất, ở trong đó một góc vườn có đôi cây sầu đông và một giàn bầu đong đưa quả nặng, một ngày đã xa mẹ ta đã chôn nhúm nhau của ta thuở ta mới lọt lòng. Đó là tiếng ngân của mặt đất, của dòng sông, của những xóm làng và những cánh đồng sau một ngày lao động và chiến đấu.

Không biết các bạn có bao giờ nghĩ như vậy không. Riêng tôi cứ mỗi lần nghe vọng lên tiếng hát đậm đà, uyển chuyển của những bản dân ca Việt Nam, lòng tôi bỗng dưng xao xuyến lạ thường, tôi bỗng dừng lại như sửng sốt, như kinh ngạc, và bàng hoàng tự hỏi: Đất nước ta, con người Việt Nam ta vẫn còn giữ được tiếng hát ấy ư? Kỳ diệu biết bao nhiêu! Kỳ diệu biết bao nhiêu - tiếng hát và tấm lòng Việt Nam chúng ta!

Dân tộc chúng ta sinh ra và lớn lên trên một mảnh đất mấy nghìn năm nay chưa giờ phút nào nguội tắt ngọn lửa chiến tranh. Từ trong đêm mờ xa xôi của lịch sử, hình ảnh cha ông ta, hình ảnh con người Việt Nam suốt hàng trăm thế hệ nối tiếp bao giờ cũng là hình ảnh một con người cầm vũ khí đứng lên trong cuộc chiến đấu trường kỳ và dữ dội để giành và giữ lấy quyền sống của mình. Không biết có nơi nào nữa trên trái đất, quyền làm người được bảo vệ bằng nhiều máu đến vậy không? Giá như chúng ta minh họa lịch sử dân tộc thì có trang nào, dòng nào mà không phải vẽ thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu? Máu thắm đượm rãnh cày ta gieo hạt giống, máu thắm đượm mảnh sân con ta nô đùa ngày bé, máu thắm đượm con đường nơi đó mẹ ta lau nước mắt ngày tiễn ta ra đi, máu thắm đượm bờ ao em ta ngồi giặt áo trên chiếc cầu nhỏ gập ghềnh... Ôi dân tộc ta từ trong máu lửa mà sinh ra, mà lớn lên. Từ trong máu lửa bốn nghìn năm chúng ta đứng dậy và cất tiếng nói. Từ trong máu lửa đỏ cháy cả không gian và thời gian như vậy, tưởng như chỉ có thể là tiếng kêu rú căm hờn, dân tộc ta chỉ có thể nấc lên tiếng khóc xé ruột, xé lòng... Thế nhưng lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy lại là tiếng hát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu. Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào.

Cám ơn chị, người con gái hát trên đài đêm nay, cám ơn chị đã hát lên lòng tự tin và sức sống không gì dập tắt nổi của dân tộc ta.

Đêm nay, đêm chuẩn bị đánh một trận mới sau những trận ác chiến đã qua, cám ơn chị đã hát lên hộ chúng tôi lòng dũng cảm trầm lặng và vững chãi của đất nước, của chúng tôi. Sáng mai chúng tôi sẽ lại lên đường. Cuộc chiến tranh yêu nước đang cháy trên quê hương. Những Điện Biên Phủ đang gọi chúng tôi phía trước. Đêm nay nghe tiếng hát êm ả của quê hương, rồi sáng mai chúng tôi sẽ ra trận. Mười bốn triệu người miền Nam sẽ tiếp tục cuộc ra trận lớn lao của mình...

Cuộc ra trận lớn đó kéo dài đã mười năm nay.

Mười năm, nhớ lại mà lòng dào dạt tự hào! Đồng chí Giải phóng quân ngày mai sẽ ra trận, hãy nhớ lại mười năm, hãy nhớ lại đoạn đường chống Mỹ và thắng Mỹ ba nghìn sáu trăm ngày đã đi qua.

Mười năm nay bao nhiêu triệu cặp mắt mong chờ lo âu chăm chú nhìn về phía chúng ta từ khắp nơi trên trái đất, chăm chú theo dõi ta, từ cái thuở ta còn len lỏi trong rừng đêm bốn bề giặc bủa; những đôi mắt nặng trĩu chịu đựng và lo chờ, bạc xám như lớp tro phủ hòn than vùi trên khuôn mặt đen bóng châu Phi; những đôi mắt sôi nổi từ phía châu Mỹ Latinh; những đôi mắt trầm ngâm của Châu Á, long lanh của châu Âu; những đôi mắt xao động sóng gió từ vô số hòn đảo trên châu Đại-dương rộng lớn. Họ chăm chú nhìn và hỏi chúng ta, bởi vì ở đây, trên mảnh đất bên bờ bể Đông - Nam châu Á này, họ đang nhìn và đang hỏi số phận của chính họ. Họ biết ở đây, trên mảnh đất nhỏ vùng nhiệt đới sum suê cây lá này, trong túp lều chui đụt mà hai mươi năm trời đi đánh giặc ta chưa có chút thì giờ về đánh tranh lợp lại cho mẹ ta, trên cánh đồng bùn lầy cha ta ngày ngày trầm lặng từng bước từng bước đi theo chiếc cày gãi đất và con trâu cũng trầm lặng như người, trên bãi sông tiễn đưa, trong góc vườn hò hẹn của quê ta đây, chính ở đây đang diễn ra cuộc chiến đấu lớn lao, quyết liệt và tiêu biểu nhất giữa con người lao động và con ác thú đế quốc ngày nay. Kẻ thù xấc láo và cuồng dại đã chọn mảnh đất quê ta và mười bốn triệu người Việt Nam chúng ta, đã chọn mẹ ta, em ta, vợ ta, con ta, tuổi trẻ và tình yêu của ta, mái trường và sân đình làng ta... làm vật thí nghiệm cho những âm mưu mới đẫm máu của chúng. Chúng cố lấy máu ta mong vẽ nên con đường thoát trước cuộc tấn công dồn dập của nhân loại cần lao, chúng cố đốt cháy làng quê ta để mong nhen nhúm chút ánh sáng đen tối đưa chúng thoát con đường hầm tắc nghẽn của chúng. Với lòng dạ sói lang đó, chúng đã đổ lên mảnh đất này tất cả những tội ác mà những tên bạo chúa trong suốt lịch sử lâu dài của loài người đã nghĩ ra được, tất cả những mưu đồ mà những cái đầu thông minh nhất trong những cái đầu tư bản đần độn của chúng đã nghĩ ra được. Chưa bao giờ dân tộc ta đứng trước một con ác thú dữ tợn và thâm hiểm như vậy. Triệu triệu những cặp mắt lo âu của thế giới quay nhìn chúng ta. Họ lo nghĩ về số phận của chúng ta và số phận của chính họ. Bởi vì sau cuộc chiến đấu của đội xung kích thì sẽ đến cuộc chiến đấu của các binh đoàn.

Chúng ta cũng nghe từ trong sâu thẳm của thời gian, lịch sử của cha ông hỏi chúng ta. Chúng ta nghe những người cộng sản nguyên thủy bốn nghìn năm trước đã theo đức tổ Hùng Vương đến sinh cơ lập nghiệp trên bãi phù sa sông Hồng, những người nô lệ nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương, những người nông dân vót nhọn cọc sắt đâm thủng thuyền Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng, những người dân cày chém chết Liễu Thăng dưới chân ải Chi Lăng, những người áo vải đã đánh trận phản công vĩ đại của Nguyễn Huệ diệt mấy mươi vạn quân xâm lược Tôn Sĩ Nghị ở Đống Đa; chúng ta nghe Nguyễn Trãi trong rừng đêm chép binh thư, nàng Kiều mười lăm năm trời dày vò đau khổ, cô Nguyệt Nga trung trinh..., chúng ta nghe quá khứ đau thương oanh liệt của dân tộc hỏi ta. Một câu hỏi lớn lao nóng hổi, bức xúc... (...)

Mười năm suy nghĩ đâu có phải chỉ để học nguyên lại cách đánh giặc ngày trước. Chúng ta đã sáng tạo ra những cách đánh mới hơn, dữ dội, ác liệt, rập ràng và công hiệu hơn. Mười năm suy nghĩ, chúng ta đã rèn đúc ra bao nhiêu thứ vũ khí mới lạ lùng. Bàn tay nhỏ của em ta cũng trở thành vũ khí. Bộ ngực nở nang của người yêu ta cũng trở thành vũ khí. Tấm thân còm cõi của mẹ ta cũng trở thành vũ khí. Lời nói duyên dáng đậm đà của cô hàng xén ở góc chợ nay cũng trở thành vũ khí. Tất cả đều gieo tan rã và cái chết lên đầu giặc. Kẻ thù kinh hoàng. Động đến cái gì, chúng cũng chạm phải cái chết. Phát súng của chúng ta nã vào đầu chúng. Lời nói bình thản của mẹ, của em ta làm cho chúng rối loạn. Tiếng mõ tre trong đêm của làng ta vây chúng trong một vòng vây kín đặc. Chúng nó sợ tất cả. Sợ một một đôi môi mỉm cười, một cánh tay gặt lúa, chúng nó sợ màu vàng của chiếc áo cà sa, sợ màu đỏ ửng trên má chị sinh viên; chúng nó sợ một hạt muối trắng mặn mà, một tiếng tơ-rưng trong và ngọt... Nụ cười, lời nói, tiếng đàn, phát súng, mũi chông, lưỡi thò, tiếng kinh cầu siêu... Tất cả, tất cả dồn lên trong một cuộc xung phong tới tấp, một cuộc tiến công chưa bao giờ đông đảo và rập ràng như vậy.

Chúng nó có vũ khí Mỹ. Trả lời chúng, ta có tiếng nói của vũ khí và vũ khí của tiếng nói. Miệng súng và miệng người yêu ta đều phun cái chết vào mặt quân thù.

Mặt trận của chúng ta mở khắp nơi, trong rừng sâu, trên đồng lúa, giữa đường phố, trên chuyến tàu, trong nhà chùa, trong trường học và cả trong trại lính của chúng. Một cuộc nội công ngoại kích rầm rập, ào ạt. Không có hậu phương, đâu cũng là tiền tuyến, không có phía sau, đâu cũng là phía trước. Mười bốn triệu người ra trận. Một cuộc chiến tranh và một cuộc khởi nghĩa rùng rùng. Chúng ta vây giặc trong một vòng vây mười bốn triệu nghĩa quân...

Từ xưa đến nay, bao giờ cũng vậy, con người tự nhận thức ra mình trong quá trình chiến đấu với kẻ thù và với thiên nhiên. Mười năm đánh nhau với kẻ thù tàn bạo nhất của loài người, chúng ta đã học được rất nhiều. Song, điều lớn lao và đẹp đẽ nhất là chúng ta đã học hiểu thêm về chính bản thân chúng ta. Qua máu lửa, chúng ta hiểu kỹ hơn, sâu hơn, quả tim Việt Nam chúng ta đúc bằng gang và trí tuệ của chúng ta đã chín đến chừng nào. Chúng ta hiểu rõ hơn sức mạnh của cánh tay ta, uy lực của lời nói ta. Chúng ta đổi mười năm xương máu, hàng vạn đồng chí và đồng bào rơi đầu, hàng triệu người thành thương tật, để soi sáng thêm những đức tính tiềm tàng của con người Việt Nam và con người lao động. Chúng ta hiểu chúng ta rồi, và chính vì thế mà sức chúng ta càng mạnh hơn bao giờ hết, niềm tin của chúng ta càng vững như thép và tình yêu dân tộc trong chúng ta càng thấm sâu vô cùng. (...)

Chúng ta không thể gặp và quen biết hết, nhưng chúng ta hiểu hết tất cả, cũng như họ đã tự hiểu họ. Chúng ta hiểu thế nào là con người Việt Nam ta ngày hôm nay, sau bốn nghìn năm lịch sử, sau mười năm chiến đấu với kẻ thù tàn bạo nhất. Chúng ta hiểu và tin như vậy. Nhưng mục đích đã hiện ra sáng rõ. Chúng ta đã nhìn ra lối đi đến đó.

Tôi đã thức trọn một đêm. Bên ngoài đã hửng sáng. Một ngày mới đang đến.

Làng quê đang thức dậy. Một tiếng gà gáy xa. Một ánh sao mai chưa tắt. Một chân trời ửng đỏ phía xa. Một chút ánh sáng hồng trên mặt nước ruộng lúa lên đòng.

Chẳng có gì cả, nhưng là tất cả, quê hương ta đó. Thân mật như buổi sáng trong ca dao, trong tiếng hát dân ca trữ tình của chúng ta.

Có tiếng khóc của một đứa bé bên hàng xóm. Mẹ em mới sinh em đêm qua. Em mới ra đời: thêm một người lính khởi nghĩa ra đời! Có lẽ vài hôm nữa, nằm trong tay mẹ, em sẽ có mặt trên đồn giặc, trong cuộc đấu tranh chính trị của mẹ em, của làng nước quê em...

Sáng rồi. Cuộc chiến đấu của chúng tôi sắp bắt đầu. Trong trận đánh hôm nay chúng tôi sẽ tiêu diệt địch thật gọn, phối hợp với cuộc đấu tranh đang dậy khắp quê hương. Có thể hôm nay, điều ấy cũng thường tình, tôi sẽ ngã xuống. Nếu như vậy, thì cũng có sao đâu. Bởi vì giá như sau đó, vì một sự kì diệu, tôi được sống trở lại thì cũng cho tôi được sống trong những ngày hôm nay của dân tộc ta. Tôi thiết tha yêu cái ngày hôm nay của đất nước, thiết tha yêu đội ngũ trùng điệp của chúng ta đang tiến lên trong cuộc hành quân cả nước sục sôi và chiến thắng này.

Sáng rồi. Phương Đông rực rỡ một màu hồng chói lọi.

 

 


 

Nguyễn Trung Thành

(Đường chúng ta đi, Nxb Văn nghệ Giải phóng, 1975, tr. 32 - 46; sách in lần thứ 3).

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 34 / 8
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn