NOI TOI DEN|NGUYEN DUY VA ANH TRANG | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku
( 16:24:28 30-01-2012 )

               NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VÀ BÀI THƠ "ÁNH TRĂNG"

         (Bản thuyết minh cho hãng phim tài liệu- SGK- NXB Giáo dục)

       

NQT: Thật lòng biết ơn, đệ xin đăng nguyên văn bài viết để không phụ lòng sư phụ.

 

          (Hình ảnh quê làng tác giả, ánh trăng Đà Lạt, sông Thao, bờ tre mái rạ...)

                             Tre xanh xanh tự bao giờ...

          Câu thơ của Nguyễn Duy đã có tuổi đời gần nửa thế kỉ nay. Nó đã được nhiều thế hệ người đọc ngâm nga, suy ngẫm, vận vào thân phận mình, số phận và nhân cách dân tộc mình. Những câu thơ của Nguyễn Duy, nói theo cách của Văn Cao sẽ " mãi còn xanh".

 

          Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1948 tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn ( nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa) tỉnh Thanh Hóa.

          Năm 1965 Ông từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng- một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mĩ trong những năm chiến tranh ở Việt Nam. Năm 1966 Ông nhập ngũ, làm lính đường dây của bộ đội thông tin; tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9- Khe Sanh, đường 9- Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc năm 1979. Sau đó Ông giải ngũ , làm việc tại Tuần báo Văn nghệ- Hội nhà văn Việt Nam và là Trưởng đại diện của báo này tại phía Nam.

          Nguyễn Duy làm thơ từ hồi còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn- Thanh Hóa. Ông cũng viết tiểu thuyết, bút kí. Năm 1997, nhà thơ tuyên bố " gác bút" để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, viết, in thơ trên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, giấy dó...Năm 2005, Ông biên tập và in 30 bài thơ Thiền Lí- Trần khổ 81 cm x 111cm trên giấy dó với 3 ngữ: Hán- Anh- Việt kèm nền ảnh và minh họa của chính tác giả.

          *Các tác phẩm chính:

          - Cát trắng (1973)

          - Ánh trăng ( 1978)

          - Đãi cát tìm vàng ( 1987)

          - Mẹ và em ( 1987)

          - Đường xa ( 1989)

          - Quà tặng ( 1990)

          - Về (1994)

          - Bụi ( 1997)

          - Nguyễn Duy- Thơ ( 2010) ( tuyển tập những bài thơ tiêu biểu)

          - Em- Sóng ( Kịch thơ- 1983)

          - Khoảng cách ( Tiểu thuyết- 1983)

          - Nhìn ra bể rộng trời cao ( kí- 1986)

          * Các giải thưởng chính:

          - Giải nhất thơ Tuần báo Văn nghệ- 1973

          - Tặng thưởng loại A về thơ của Hội nhà văn Việt Nam 1985

          - Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật- 2007

 

          Nguyễn Duy quan niệm: " Là một nghệ sĩ mà anh đã đứng về phe nhân dân, dân tộc thì trong bất kì thời đại nào anh phải có thái độ chính trị của mình...Nhà văn có thái độ chính trị nhưng nhà văn không phải là cái đuôi của chính trị" Nhà thơ còn tuyên bố: " Cứ chìm nổi với đám đông/ Riêng ta xác định ta không là gì" Nhà thơ thường ví mình  như hạt bụi bay trong cõi người. như hạt cát trôi trong dòng sông Mạ, như " giọt nước biệt tăm ngoài biển cả", và tha thiết nhất là như cỏ dại vô danh mà hữu ích; " Những mong có ích cho người/ Dẫu làm thân cỏ dập vùi...sá chi" Tác giả tự họa: " Ta dù lếch thếch lôi thôi/ Mong thơ sinh hạ cho đôi ba dòng.../ Cứ bèo bọt bước thiên di/ Đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng.../ Cứ là rượu của chúng sinh/ Cho ai nhắm nháp cho mình say sưa/ Cứ như hoa cỏ bốn mùa/ Giọt sương giọt nắng giọt mưa vơi đầy"

          Giọng điệu thơ Nguyễn Duy nhiều khi có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm, giàu tính triết lí, vì thế nó cứ thấm nhuần vào người đọc một cách tự nhiên. Rất nhiều bài thơ của Ông được người đọc yêu thích: Tre Việt Nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đò Lèn, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng, Vợ ơi...Nguyễn Duy được đánh giá cao trong thể thơ lục bát. Thơ lục bát của Ông vừa truyền thống vừa hiện đại. Câu thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ. Ông là người đã góp phần quan trọng trong việc làm mới thể thơ truyền thống này, nhất là việc sáng tạo ra các cặp từ láy ba, láy tư- điều ít gặp trong ca dao, dân ca.

          Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn gọi Nguyễn Duy là " thi sĩ thảo dân". Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhận xét: " Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quí mọc trên đám đất hoang đó." Và đây là nhận định của tác giả " Thi nhân Việt Nam": " Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc. Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên. Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc , suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại." ( Hoài Thanh- Báo Văn nghệ ngày 14- 4-1972)

          Bài thơ " Ánh trăng"

          Văn bản:

                                      Ánh trăng

                             Hồi nhỏ sống với đồng

                             Với sông rồi với bể

                             Hồi chiến tranh ở rừng

                             Vầng trăng thành tri kỉ

 

                             Trần trụi với thiên nhiên

                             Hồn nhiên như cây cỏ

                             Ngỡ không bao giờ quên

                             Cái vầng trăng tình nghĩa

 

                             Từ hồi về thành phố

                             Quen ánh điện cửa gương

                             Vầng trăng đi qua ngõ

                             Như người dưng qua đường

 

                             Thình lình đèn điện tắt

                             Phòng buyn- đinh tối om

                             Vội bật tung cửa sổ

                             Đột ngột vầng trăng tròn

 

                             Ngửa mặt lên nhìn mặt

                             Có cái gì rưng rưng

                             Như là đồng là bể

                             Như là sông là rừng

 

                             Trăng cứ tròn vành vạnh

                             Kể chi người vô tình

                             Ánh trăng im phăng phắc

                             Đủ cho ta giật mình.

          Trước nay, từ văn chương dân gian đến văn học bác học, đã có nhiều sáng tác về trăng. Hình tượng " trăng" đã được các tác giả mô tả, phản ánh, bày tỏ với những phẩm chất, đặc điểm: là biểu tượng, chứng nhân, là cái cớ của tình yêu, là nguồn cảm hứng của sáng tạo nghệ thuật, là người tri kỉ...Nhưng vầng trăng trong bài thơ " Ánh trăng" của Nguyễn Duy thì thật đặc biệt.

          Bài thơ gồm sáu khổ, mỗi dòng năm chữ là cả một tâm sự trĩu nặng. Mở đầu là những hồi tưởng về quá khứ: " Hồi nhỏ", " Hồi chiến tranh", " Từ hồi về thành phố", trong đó nhân vật trữ tình sống với thiên nhiên, sống giữa thiên nhiên và gắn bó máu thịt " với đồng", " với sông", " với bể", " với rừng". Trong sự cộng sinh chan hòa ấy, tác giả tự nhận xét mình " hồn nhiên như cây cỏ" giữa mẹ tự nhiên, như là một bộ phận của Tự nhiên.Theo thời gian, vầng trăng xuất hiện đặc biệt về hoàn cảnh " chiến tranh", về địa điểm " ở rừng". Hoàn cảnh, địa điểm và thời gian đặc biệt gian lao vất vả ấy đã khiến cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị và hồn hậu. Vầng trăng là biểu tượng đẹp đẽ của những năm tháng ấy, đã trở thành " vầng trăng tri kỉ" ngỡ như không bao giờ, không thể nào quên được, không được phép quên! Tố Hữu đã có lần nhắc nhở mình, nhắc nhở mọi người trong một hoàn cảnh tương tự. Tháng 10 năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trung ương đảng rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, " ta" đã nhắc " mình":

                             Mình về thành thị xa xôi

                   Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?

                             Phố đông còn nhớ bản làng

                   Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

          Và rồi hoàn cảnh đã khác:

                             Từ hồi về thành phố

                             Quen ánh điện cửa gương

          Lòng người cũng đã khác:

                             Vầng trăng đi qua ngõ

                             Như người dưng qua đường

          Đây là ời tự thú thứ nhất. Câu thơ so sánh " tri kỉ", " tình nghĩa" là vầng trăng tưởng như rất bền chặt, sông cạn núi mòn cũng không thay đổi mà bỗng nhiên hóa " người dưng". Thật bội bạc và phũ phàng là nhân tình thế thái! Tiện nghi đầy đủ hơn, con người sống đời sống vật chất đầy đủ hơn nhưng đâu ngờ những cái đó đang gặm nhấm, xói mòn nhân tính và tha hóa ( sự tha hóa về tinh thần- chỗ con người khác con vật- kinh khủng hơn gấp nghìn lần sự tha hóa về thể xác)

          Đọc tới những dòng này, ta nhớ đến một truyện ngụ ngôn phương Tây. Đại ý: Một hôm, một con chim sẻ quí tộc bay về đồng nội chơi, chẳng may bị gãy chân. Nó đã được một cô sẻ thôn dã cưu mang, chữa lành vết thương. Hôm tạm biệt về thành phố, chàng không quên cảm ơn và tha thiết mời ân nhân của mình có dịp tới chơi. Thời gian sau, nhân có việc, nàng chim thôn dã cả tin theo địa chỉ tìm đến. Đang là một buổi dạ hội linh đình vui vẻ. Con chim quí tộc bội bạc đã nhận ra nhưng nó làm ngơ và nhẫn tâm sai lũ người làm đuổi ân nhân của mình ra đường...

          Trở lại, vầng trăng có lẽ mãi mãi sẽ thành " người dưng" nếu như không có sự cố " thình lình đèn điện tắt". ĐÈn điện- thứ ánh sáng tiện nghi nhưng nhân tạo, thứ hào quang giả, không bền vững, đã tắt. Nhân vật bất đắc dĩ, theo phản xạ " vội bật tung cửa sổ". Và lúc đó " đột ngột vầng trăng tròn" hiện ra. Các từ " thình lình", " vội", " đột ngột" mang kịch tính cao, cho thấy sự việc xảy ra rất nhanh, trong khoảnh khắc. Nhưng chính những khoảnh khắc này trong mỗi đời người quan trọng biết bao:

                             Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

                   Giật mình mình lại thương mình xót xa

                                                ( Nguyễn Du)

                             Chợt lên gió heo may

                             Thổi về xao động cả

                                                ( Xuân Quỳnh)

                             Khi đời sống làm mình hóa đá

                             Bỗng rùng mình vì một hạt mưa

                                                ( Hoàng Hưng)

          Nói là quan trọng vì nó níu kéo con người ta bên bờ vực trụy lạc, tha hóa. Nó làm cho con người ta thức tỉnh, sám hối và giác ngộ, ý thức lại những điều Thiện- Ác trong bản thân mình và trong xã hội.Đó là nguyên nhân của khổ thơ:

                             Ngửa mặt lên nhìn mặt

                             Có cái gì rưng rưng

                             Như là đồng là bể

                             Như là sông là rừng

          " Rưng rưng" là cung bậc tình cảm sâu kín thiêng liêng và nhạy cảm nhất. Sự so sánh trùng điệp " như là" thật ra là sự khẳng định quá khứ tốt đẹp  tâm hồn ngày xưa của nhân vật với đồng, với bể, với sông, với rừng, với đồng loại.

          Khổ thơ cuối cùng sâu xa một triết lí:

                             Trăng cứ tròn vành vạnh

                             Kể chi người vô tình

                             Ánh trăng im phăng phắc

                             Đủ cho ta giật mình

          Phụ từ " cứ" trước nhóm tính từ " tròn vành vạnh" khẳng định tính liên tục, không thay đổi về thời gian và hoàn cảnh. Vầng trăng ở đây như một ẩn dụ, là biểu tượng của sự bao dung và độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trong sáng, không mảy may cơ hội và vụ lợi, không đòi hỏi một sự biết ơn, đền đáp nào. Đó cũng là phẩm chất giản dị cao cả muôn đời của dân tộc Việt. Vầng trăng cũng giống như một vị quan tòa im lặng mà bị cáo còn lấp lánh chút lương tri nhận ra lầm lỡ của mình. Và Nguyễn Duy đã " giật mình" sau ba năm hòa bonhf để được trở về, được tắm, được sống lại trong vòng ánh sáng thiện lương đích thực của cuộc đời. Bài thơ cũng là lời thức tỉnh mọi người trong cuộc sống rất cần những cái giật mình như thế.

Chử Anh Đào

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 103 / 27
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn