NOI TOI DEN|VE MOT CONG TRINH NGHIEN CUU KHOA HOC DAO VAN | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku

 

Đó là cuốn Lễ hội nông nghiệp của người Bahnar của tác giả Thu Loan, được in bởi Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, năm 2006, dưới dạng “sách nhà nước đặt hàng”. Nội dung sách này vốn là công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của bà Thu Loan (Nguyễn Thị Thu Loan, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai).

Tiền thân là một văn bản nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, đáng lẽ sách này phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định về khoa học. Đáng tiếc, thực tế không như vậy. Dưới đây, chưa bàn về học thuật, bước đầu chúng tôi chỉ nêu ra những điều tạm coi là không thể chấp nhận đối với một “công trình nghiên cứu”. Nói ngắn gọn thì đó là sự sao chép trắng trợn, cướp công của người khác.

1. Viết về việc tế lễ của người Bahnar tỉnh Gia Lai, sách Lễ hội nông nghiệp của người Bahnar (từ đây tạm gọi là Lễ hội nông nghiệp) ở các trang 47 và 49 có đoạn:

“Hứa hẹn hiến lễ vật (số lượng, loại con vật). Kể tên những con vật đã được hiến tế mang tính chất giao kèo (…)

* Tính chất ma thuật của bài sơmăh (lời cúng - NQT)

(…) Mở đầu và kết thúc bài sơmăh người cúng thường cất cao giọng ở chữ cuối, nhất là sau các tiếng gọi thần để gây được sự chú ý. Còn lại được trình bày bằng một giọng đều đều (…).

Trong khi đọc bài cúng thường có một loạt hành động phối hợp như: Ném thịt, rót rượu và chân cột, ăn, uống những thức ăn, đồ uống đã được thần ban phép hoặc giơ tay chém trong không khí như thể đang chém những con vật hiến tế. Đồng bào gọi hàng loạt các hoạt động trên đây là “phép - lép”. Nó không chỉ có tính nghi lễ, làm phép mà còn tạo nên tính chất ma thuật khiến niềm tin của con người tăng lên…”.

Thực ra, trước tác giả Thu Loan gần 20 năm đã có người trình bày những chi tiết này một cách rành mạch, cụ thể:

Hứa hẹn hiến lễ vật (số lượng, loại con vật) và thời gian tiến hành hiến tế. Có thể là kể tên những con vật đã được hiến tế (nếu đang tiến hành lễ trả ơn).

Khi đọc bài Sơmăh, thường có một loạt hành động phối hợp: ném thịt, rót rượu vào chân bàn thờ (dâng lễ vật); những động tác và sự thể hiện tình cảm trong khi đọc Sơmăh, hành động làm phép (như động tác chém làm phép con trâu hiến tế, hoặc ăn những thức ăn đã được thần ban phép).

Thông qua trình tự, kết cấu của bài Sơmăh và cách thức đọc nó, ta thấy về bản chất đây là một hành động ma thuật, được tiến hành nhằm cầu mong các thần đáp ứng, thỏa mãn ý nguyện của con người (…).

Các bài Sơmăh được trình bày bằng một giọng đều đều, không ngữ điệu, chỉ cất cao giọng ở chữ cuối”.

Tác giả của đoạn trên là bà Vũ Thị Hoa, tại phần viết về lễ hội Bahnar, trang 103, trong cuốn sách Fônclo Bâhnar được in năm 1988, (Tô Ngọc Thanh, Đặng Nghiêm Vạn, Phạm Hùng Thoan, Vũ Thị Hoa, Sở Văn hóa, Thông tin Gia Lai – Kon Tum xuất bản). Công lao của người đi sau gần 20 năm trong trường hợp này không gì khác hơn là sao chép, cắt xén, thêm bớt hay đảo vị trí của một vài từ ngữ. Tất nhiên, đây không phải là trường hợp duy nhất.

2. Sách Lễ hội nông nghiệp trong mục lễ cúng thần nhà hoặc thần bếp (“sơmăh go”), ở các trang 61 và 62, viết:

“Đối tượng suy tôn: Yang Go (thần trú trong nồi), yang Ti kơnưng (thần trú trong cột), yang Teh (thần Đất), yang Hnam (thần trú trong cột lớn nhất của nhà). Thời gian: 1 ngày, thường vào tháng 2 hoặc tháng 9 âm lịch. Phạm vi tổ chức: Từng gia đình. Địa điểm: Cột nhà ở giữa nhà hoặc bên cạnh bếp.

Mục đích: Cầu mong các vị thần giúp cho con người có sức khỏe, bảo vệ cuộc sống của gia đình vẹn toàn, làm ăn phát đạt, tạo điều kiện cho các thần Lúa, Ngô, Khoai biết đường về nhà. Mùa màng sẽ tốt tươi. Hạt bắp, hạt lúa không bị lép. Lễ vật: 1 con gà, 1 ghè rượu”.

Thực ra, thông tin trên là sự xào xáo lại những gì mà tác giả Vũ Thị Hoa trình bày năm 1988 (sách đã dẫn); nguyên văn tại các trang 82 và 83, như sau:

Sơmăh gọ (cúng nồi). Sau khi sửa lại nhà cũ, trước khi cuốc lại nương cũ, người ta làm lễ Sơmăh gọ. Lễ được tiến hành trong một ngày, ở từng gia đình, làm tại nhà ở với lễ vật là một con gà, một ghè rượu.

Mục đích của lễ là cầu mong các vị thần Zang gọ (thần trú trong nồi), Zang ti Kơnưng (thần trú trong cột buộc rượu lễ), Zang Teh (thần Đất), giúp cho con người có sức khỏe, bảo vệ cho cuộc sống của gia đình được vẹn toàn, làm ăn phát đạt; khấn cho thần lúa nhớ đường về nhà, lúa không bị lép, không bị tàn lụi, khi thu hoạch ngô lúa để chật nhà”.

3. Trong mục lễ gọi mưa ở trang 68, sách Lễ hội nông nghiệp có đoạn: “còn gọi là sơmăh đăk măt atâu. Người Bahnar Konkơđeh cho rằng hồn của những người mới chết nhớ tới mùa trồng trỉa, nhớ nương rẫy nên quay về nhà. Hồn thấy gì cũng lạ, bèn đếm lại ngón tay thấy tay mình chỉ còn bốn ngón. Hồn biết mình đã là người chết rồi bèn cất tiếng khóc. Giọt nước mắt hóa thành những giọt mưa rơi xuống đất. Bởi vậy sau khi cơn mưa đầu tiên dứt thì làng tổ chức sơmăh đăk măt atâu”.

Trước đó, cũng về vấn đề này, tại trang 65 và 66, tác giả Thu Loan viết:

“Thời gian: 1 ngày. Mục đích: Cảm ơn những người đã chết (ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè – là những người thân thiết) đã làm cho mưa xuống và qua đây cũng mong hồn những người đã chết tiếp tục giúp đỡ dân làng cầu mong vụ mùa năm đó được mưa thuận, gió hòa”.

Dẫu có đảo trộn, cắt gọt thì người ta vẫn dễ dàng nhận ra trước đó, tác giả Vũ Thị Hoa trong Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), từng viết kĩ về vấn đề này, tại trang 83:

“Sơmăh đăk măt atâu (khấn nước mắt của hồn người chết). Người ta cho rằng: hồn của những người mới chết vẫn quẩn quanh ở nghĩa địa. Khi mùa trồng trỉa đến gần, nhớ đến việc nương rẫy, hồn về nhà. Hồn thấy trong nhà có những thay đổi (trong con mắt của nó), nghi ngờ, hồn đếm lại ngón tay thấy chỉ có 4 ngón - biết mình không còn là người nữa nên nó cất tiếng khóc (…) Vậy nên khi cơn mưa đầu tiên vừa dứt, cả làng tiến hành lễ Sơmăh đăk măt atâu”.

(…) “Lễ tiến hành trong một ngày. Mục đích lễ: cảm ơn ông bà (đã chết) bok Keidei và Ză KôrKer đã làm cho mưa xuống, đồng thời họ cũng cầu mong vụ mùa năm đó được mưa thuận gió hòa”.

4. Về lễ trồng trỉa lúa (“sơmăh jơ mul ba”), sách Lễ hội nông nghiệp, ở các trang 69 và 70 có đoạn:

“Thời gian khoảng tháng 3 âm lịch, trong ngày đầu tiên đi trỉa lúa. Phạm vi tổ chức: Từng gia đình. Địa điểm: Trên rẫy chính của mỗi gia đình. Mục đích: Thông báo cho các thần biết về việc trồng trỉa lúa, cầu các vị thần trợ giúp trong quá trình cây lúa, con người, gia súc sinh sôi phát triển”.

Thực ra, trong Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), tại trang 84, tác giả Vũ Thị Hoa đã viết về nghi lễ khấn trồng trỉa lúa, như sau: Lễ làm vào tháng 3 lịch dân tộc (…) Lễ tiến hành trong phạm vi từng gia đình và trong một ngày, đúng vào ngày đầu tiên toàn làng đi trỉa lúa rẫy. Mục đích lễ: thông báo cho các hồn tổ tiên của mình và các vị thần () biết về việc trồng trỉa lúa, cầu mong các vị trợ giúp để trong suốt quá trình sinh sôi, phát triển hạt lúa sẽ không bị thối bị nghẹn (…), con người của gia đình đó cũng sinh sôi (…), gia súc phát triển…”

5. Về lễ rưới nước cho lúa, sách Lễ hội nông nghiệp, trang 76 và 77 viết:

“Thời gian: 1 ngày, khi lúa bắt đầu trổ bông, khoảng tháng 6 âm lịch. Địa điểm: Trên rẫy và tại gia đình. Mục đích: Cầu mong cây lúa đủ nước, đảm bảo cho cây phát triển đầy đủ, mau lớn. Lễ vật: Con gà, ghè rượu. Ở lễ này hội tụ cả hai tín ngưỡng thờ hồn lúa và thờ nước. Khi tổ chức lễ này hai vợ chồng đem rượu và một con gà sống ra rẫy. Lấy một khúc le đóng xuống đất rồi cột vào đó một ống rượu, mấy cái lông gà, rồi đọc bài sơmăh. Đại ý nói rằng: Mời thần Lúa xuống đây uống rượu. Cho lúa chúng tôi nhiều hột. Chúng tôi ăn ít mà được no lâu. Hãy đến uống rượu, ăn gan gà và thương chúng tôi, cho lúa gạo nhiều để chúng tôi mua chiêng đầy vách, ghè đầy nhà”. Rồi hai vợ chồng lấy nước ở trong ống lồ ô đã cột vào cây le để cúng thần đem đi rưới cho lúa. Hết rẫy này đến rẫy khác. Rưới xong mang rượu, gà về nhà làm thịt, dâng tiếp một lễ chung cho tất cả các thần, tiếp tục đọc bài cúng. Sau đó những người trong gia đình cùng ăn uống”.

Rất chi tiết nhưng đây không phải là kết quả nghiên cứu mới của bà Thu Loan vì từ năm 1937, trong sách Mọi Kontum, các tác giả Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi đã miêu tả nghi lễ trên. Đoạn viết này sau đó được sách Địa chí Gia Lai (Nhiều tác giả, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1999) dẫn lại; nguyên văn tại trang 684, như sau:

“Lễ rưới nước cho lúa (của người Bana). Lễ được tổ chức vào lúa bắt đầu trổ bông, khoảng tháng 6 ta, cầu mong lúa được thêm mát mẻ và mau lớn. Đến ngày lễ, hai vợ chồng đem rượu và 1 con gà sống ra rẫy (…) họ trồng 1 cây gơl, nhổ một vài cái lông gà dắt vào đó và cột một ống rượu, rồi khấn: “Ơ thần lúa xuống uống rượu đây và cho lúa chúng tôi có hột và chúng tôi ăn ít mà được no lâu”. Rồi hai vợ chồng cùng dùng một thứ nước lấy ở trong ống lồ ô mà rưới cho lúa. Rưới xong rẫy này lại đi rưới rẫy khác. Sau hết, đem gà về làm thịt và dâng một lễ chung, đại khái khấn rằng: “Hôm nay, chúng tôi ăn lễ rưới nước cho lúa, chúng tôi xin thần sấm sét, thần iă pôm, thần lúa, thần núi, thần sông, thần cây, thần đá, đến uống rượu, ăn gan gà và thương chúng tôi, cho lúa gạo nhiều để chúng tôi mua được chiêng, ghè xatok…”.

6. Về “lễ đưa hồn lúa lên chòi”, tại trang 82, tác giả sách Lễ hội nông nghiệp viết:

“Khi lúa trên nương đã chín rộ, mỗi gia đình tổ chức lễ đưa hồn lúa từ nương về kho đựng lúa bằng cách căng dây từ mỗi rẫy về (tượng trưng cho việc làm đường để lúa đi). Nếu qua suối họ cũng bắc cầu qua suối. Nếu gặp ngã ba, ngã tư họ sẽ cắm hoa lau, lá xanh làm dấu chỉ đường. Đến nhà kho họ làm cầu thang để hồn lúa lên được nhà kho. Khi làm lễ họ lấy tiết gà hòa với bầu rượu rồi rắc lên đống lúa mới. Gia chủ sẵn sàng ngồi dưới kho lúa để cho nước rượu chảy vào người mình. Xong họ lấy chỗ lúa đã ướt rượu đó về giã thành gạo, nấu thành cơm, cả gia đình phải ăn cho hết”.

Vẫn chỉ là một sự sao chép của tác giả Thu Loan. Bởi vấn đề này, Địa chí Gia Lai (sách đã dẫn), tại trang 684 đã viết:

“Khi lúa trên nương đã chín rộ, khô nỏ, để mở đầu mùa suốt lúa, đồng bào tổ chức lễ đưa hồn lúa từ trên nương về làng nghỉ ngơi (…) Họ căng dây từ nương về kho lúa gần nhà ở trong làng, tượng trưng cho việc làm đường cho hồn lúa đi. Trên đường đi, khi phải qua suối, họ cũng “bắc cầu” cho hồn lúa đi qua. Ở những ngã 3, họ cắm hoa lau làm dấu chỉ đường cho hồn lúa. Khi đến nhà kho, họ phải làm cầu thang để cho hồn lúa lên chui vào kho.

Khi làm lễ ở kho để lúa, chủ nhà đập chết gà và lợn, sao cho tiết chảy vào chân cầu thang kho thóc (…) Tất cả vợ con và người nhà chui vào ngồi hết dưới gầm kho, sau đó ông chủ lấy bát rượu cần đổ qua ống nứa, tưới lên đầu họ. Nếu rượu chảy đúng vợ mình, gia đình sẽ may mắn, vụ mùa tới sẽ được no đủ”  .

7. Về lễ đóng cửa kho, sách Lễ hội nông nghiệp, tại trang 83 có đoạn:

“Khi mùa màng thu hoạch xong xuôi, gùi lúa cuối cùng được đổ vào kho cũng là lúc mỗi gia đình tổ chức lễ đóng cửa kho. Người ta cúng gà, heo và rượu ngay tại kho lúa. Thực hiện nghi lễ xong gia chủ lấy gùi úp lên đống lúa với ngụ ý là giữ hồn lúa lại cho đến vụ mùa sau”.

Không có gì mới, vì trong Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), tại trang 86, tác giả Vũ Thị Hoa đã viết:

Sơmah Teng amăng (lễ đóng cửa kho). Khi gùi lúa cuối cùng được đổ vào kho, mỗi gia đình (có nơi cả cộng đồng) làm lễ đóng cửa kho lúa. Họ lấy cái giỏ suốt lúa úp lên ngọn đống lúa trong kho với hàm ý là hồn lúa nằm lại với lúa cho đến vụ sau”.

8. Sách Lễ hội nông nghiệp, tại trang 92, mục: “Lễ hội cúng đầu mùa rẫy mới (Người Bahnar Konkơđeh, Tơlô gọi là sơmăh kơcham,…). Thời gian: 3-4 ngày, tiến hành vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 khi sắp bước vào vụ sản xuất mới. Mục đích: Thông báo cho các vị thần linh biết những công việc sẽ làm trong năm, khấn cầu các vị thần trợ giúp để mọi việc trong năm được tốt đẹp. Cầu cho mưa thuận gió hòa, cây trồng phát triển tốt, không gặp thiên tai sâu bệnh, gia súc sinh sôi, không bị bệnh. Mùa màng bội thu”.

Trong Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), tại các trang 81 và 82, tác giả Vũ Thị Hoa từ lâu đã viết:

“Sơmăh Kơcham (Cham: sân của làng. Nghĩa rộng là vị trí khu vực làng). Hàng năm, lễ hội này được tiến hành vào cuối tháng 2, đầu tháng 3, khi cả làng sắp sửa bước vào một vụ sản xuất mới (…) Trong lễ hội, đồng bào thông báo cho các vị thần linh biết những công việc sẽ làm trong năm, khấn cầu các vị trợ giúp để mọi việc được tốt đẹp: làm lại nhà cũ đã hỏng, đốn cây làm rẫy, cầu cho thời tiết tốt đẹp, mưa thuận gió hòa, cây trồng lớn nhanh, tốt tươi không gặp sâu bệnh; con người khỏe mạnh, sinh sôi nhanh chóng; chăn nuôi phát triển, mùa màng bội thu.

9. Sách Lễ hội nông nghiệp, trang 75 viết: “Lễ triệu hồn lúa về (Người Bahnar Konkơđeh, Tơlô vùng Kông Chro gọi là sơmăh kuai,…). Thời gian: 1 ngày, khi lúa cao khoảng một gang, khoảng tháng 5 – 6 âm lịch. Địa điểm: Trên rẫy hoặc tại nhà. Mục đích: Cầu mong các thần đang bảo quản, gìn giữ hồn các loại cây, gia súc cho chúng trở về để giúp cây cối khỏe mạnh cho đến ngày thu hoạch. Gia súc cũng phát triển sinh sôi”.

Sau đó, ở trang 106, vẫn nghi lễ này, nhưng khi được tác giả chuyển thành “lễ hội” thì nó có tên là “Lễ hội gọi hồn về (Người Bahnar Konkơđeh, Tơlô vùng Kông Chro gọi là sơmăh kuai,…). Đối tượng suy tôn: Bok Keidei, yang Kông, yang Đăk, yang Đơng ti kơnưng. Thời gian: 2-3 ngày, khoảng tháng 6 - 7 âm lịch khi cây lúa cao chừng một gang tay đến khi gần trổ bông. Địa điểm: Trước sân nhà rông. Nội dung: Tiến hành lễ để gọi về những hồn cây lương thực, ăn quả, không cho chúng bị thất lạc”.

Thực chất, toàn bộ nội dung chính của nghi lễ trên đã được tác giả Vũ Thị Hoa trình bày trong Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), tại trang 85, như sau:

Sơmăh Kwai (khấn triệu về). Trong quãng thời gian từ lúc lúa cao chừng một gang tay đến khi lúa gần trổ bông (thường là vào khoảng tháng 5, tháng 6 lịch dân tộc) thì người ta tiến hành lễ.

Lễ kéo dài 2 ngày. Địa điểm chính: ngay ở cổng làng, trên con đường chính đi ra rẫy. Người ta tiến hành lễ để gọi, triệu về những hồn lúa, ngô, kê… nói chung là hồn các loại cây lương thực, cây ăn quả đang bị thất lạc, bị các thần (bok Keidei, Zang Kông, Zang Đak…) bắt giữ và nhờ Zang đơng ti Kơnưng bảo quản, giữ gìn các hồn đó”.

10. Sách Lễ hội nông nghiệp, trang 109, viết: “Lễ hội cốm mới (cơm mới) (Người Bahnar Konkơđeh gọi là sơmăh samoh) (…) Thời gian: 1-3 ngày khi lúa trên rẫy chuẩn bị chín tới hoặc khi dân làng đã thu hoạch được gùi lúa đầu tiên hoặc thu hoạch xong một khu vực gieo trồng. Địa điểm: Trong nhà rông. Mục đích: Cầu ước mùa lúa năm đó và những năm tiếp theo sẽ tươi tốt”.

Trước đó, trong sách Fônclo Bâhnar (sách đã dẫn), tại trang 85, tác giả Vũ Thị Hoa đã viết:

Samơk (ăn cốm mới). Lễ hội được tổ chức 3 ngày, trong nhà rông. Trong thời gian này, những vạt lúa sớm trên nương rẫy đã bắt đầu chín tới. Đây là lễ hội (…) với niềm cầu ước là lúa năm đó và những năm tiếp theo sẽ tươi tốt…”.

Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi chỉ có thể dẫn một số đoạn giống nhau giữa sách Lễ hội nông nghiệp của tác giả Thu Loan (in năm 2006) với các sách khác đã xuất bản trước đó từ rất lâu (gần nhất là năm 1999, xa nhất là năm 1937), để phần nào thấy được sự “kì công” trong sao chép mà không thèm dẫn nguồn của người viết này. Sự “sáng tạo” trong những đoạn “cầm nhầm” kể trên là trò cắt dán, thêm bớt hay sửa chữa một vài từ ngữ, hoán đổi vị trí một vài câu. Việc làm này chẳng những là hành động cướp công người khác mà còn là một sự lừa dối độc giả. Tuy thế, nó lại hoàn toàn không đáng ngạc nhiên, bởi năm 2015, chính bà Thu Loan cũng đã bị phát giác gian dối khi xuất bản một cuốn tiểu thuyết đã chôm chỉa rất nhiều tư liệu thành văn của người khác mà không dẫn nguồn hay xin phép. Sự việc lố bịch đến độ Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai - nơi bà đang là Ủy viên Ban Chấp hành - phải họp, ra văn bản xác nhận sự thật đó, gửi đến tất cả các hội viên của tỉnh, đồng thời yêu cầu “bà Thu Loan phải nghiêm túc rút kinh nghiệm”!

Đạo văn trắng trợn như thế nhưng không hiểu sao, công trình nghiên cứu này vẫn chui qua cửa hội đồng khoa học cấp tỉnh? Xin dành câu hỏi này cho những người có trách nhiệm ở tỉnh Gia Lai.

 

Nguyễn Quang Tuệ

Nguồn: Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2016.

 

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 104 / 22
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
  • Không có
Tin cũ hơn