PLEIKU XUA VA NAY|GIO VE TROI | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku
( 19:45:19 31-12-2014 )

Sẽ rất khó để những người yêu văn hóa Bahnar nơi này có thể quên được anh, một người đã dành quãng thời gian đẹp nhất của đời mình cho làng. Hi vọng những gì mà Phong kịp để lại trong cuộc đời ngắn ngủi, rất có thể vẫn nhẹ nhàng như một ngọn gió trên Cao Nguyên, đủ thức dậy những tình yêu trong trẻo về văn hóa bản địa Gia Lai.

Lê Hữu Phong mất hồi cuối tháng 11/2014. Khi đó, tôi đang ở Hà Nội nên không có mặt trong đám tang của anh. Dù biết sinh có hạn, tử bất kì nhưng lòng vẫn cứ áy náy mãi vì điều này. Phong từ giã cõi đời năm 49 tuổi, theo một cách diễn đạt nào đó thì đây là năm hạn. Anh ra đi đột ngột và lặng lẽ, ngoài suy nghĩ của tất cả mọi người. Cái chết bởi bạo bệnh mà không một ngày điều trị của Phong thực sự để lại nhiều tiếc thương cho gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và bà con Bahnar vùng Mang Yang, nơi anh nhiều năm từng là thầy giáo làng, là Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện rồi Trưởng phòng Văn hóa Thông tin...

Tôi và Phong quen nhau từ trước những năm 90 của thế kỉ 20. Khi đó, cả hai đều là giáo viên thuộc biên chế huyện Mang Yang cũ, nay đã tách ra thành Mang Yang và Đak Đoa. Một ngày mưa gió đầy trời, chúng tôi gặp nhau ở quán phở thị trấn. Phong khi đó đã là hiệu trưởng một trường vùng sâu còn tôi thì mới vào nghề vài năm. Để hoàn thành tập kỉ yếu cho ngành Giáo dục huyện, tôi được nhà giáo Nguyễn Xuân Ảnh - Trưởng Phòng Giáo dục (nay là Phó Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai) - điều động và giao nhiệm vụ: phỏng vấn, viết bài về Lê Hữu Phong. Mục đích rất rõ ràng: Phong là người kiên trì bám làng, đã vượt nhiều khó khăn, xây dựng được phong trào dạy và học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần nêu gương, để không chỉ tôn vinh anh mà còn nhằm động viên những thầy cô giáo vùng sâu vùng xa khác vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chúng tôi cùng ngồi xuống hai chiếc ghế băng đối diện trong cái quán nhỏ. Xoa tay vào nhau cho bớt lạnh, Phong rót cho tôi và anh; mỗi người uống một li rượu trắng, như "thông lệ" hồi đó, rồi mới bắt đầu ăn. Tôi nâng ly rượu lên, đồng thời quan sát nhanh nhân vật của mình. Ngay lập tức, xuất hiện trong tôi một cảm giác buồn bã đến khó hiểu. Da Phong quá vàng, không chỉ vàng mặt mũi, đôi mắt mà cả ở chân tay. Vóc dáng Phong khi ấy chỉ có thể nói là quá bủng beo, gầy gò, ốm yếu, khác xa tất cả những gì tôi đã tưởng tượng về anh đêm qua. Cuộc phỏng vấn chớp nhoáng sau đó, cộng với những thông tin đã có từ nhiều nguồn, không phải không cấp đủ cho tôi tư liệu để viết về con người này, nhưng có lẽ một câu nói của Phong đã khiến tôi thay đổi. Anh thật thà bảo: Mình chưa là gì đâu, còn nhiều thầy cô cực lắm. Mình lâu lâu vẫn được ra huyện họp, còn được thấy người, thấy ô tô, chứ trong ấy thì mịt mù lắm. Trước lúc dắt xe đạp chia tay, Phong hỏi tôi có biết và đã viết về các thầy cô giáo của Mang Yang chết vì sốt rét, lũ cuốn hay chưa...

Có lẽ cũng cần nhắc lại rằng, phần lớn lực lượng giáo viên của Mang Yang cũng như của Gia Lai - Kon Tum và cả Tây Nguyên những năm ấy chủ yếu là người Kinh đến từ các tỉnh đồng bằng. Sau 1975, lớp chúng tôi và thế hệ trước đó luôn di chuyển bằng chân hoặc xe đạp, trên những con đường mòn chuột chạy, mùa mưa đất đỏ dính bết, đầy những vắt và muỗi. Trường học tạm bợ, nhiều nơi xa làng cả ngày cuốc bộ, học sinh người dân tộc thiểu số thì lèo tèo, trong khi đó, tất cả các thầy cô vùng sâu đều đã nếm mùi sốt rét. Cuộc sống của giáo viên vô cùng khó khăn, không ít người bỏ nghề tìm kế mới để sinh nhai. Với nhiều người, việc nấu rượu, nuôi heo quan trọng vô cùng, nên từng có "giai thoại" chồng con đau ốm, có khi cô mặc kệ, nhưng heo bỏ ăn thì cô khóc tu tu là thế. Nhớ có lần, khi còn phục vụ ngành giáo, tôi đưa đoàn cán bộ từ Hà Nội vào thăm một trường điểm ở Hà Tây, trong giờ làm việc, hỏi thầy đâu, trò bảo "nó" đang thả lưới dưới suối.

Rồi thời gian cuốn chúng tôi đi. Phong tiếp tục bám trụ ở làng thêm hàng chục năm nữa, trước khi được chuyển về huyện làm quản lí, năm 2003. Xét tuổi tác hay sự cống hiến (anh sinh năm 1965, vào ngành năm 1984, đến 1987 đã là hiệu trưởng ở xã Kon Chiêng), những người biết anh đều thấy việc đề bạt Phong là hợp lí. Mười năm sau kể từ ngày về trường nội trú, người hiệu trưởng vàng da vì sốt rét, là bạn tôi năm nào ấy, đã cùng tập thể đưa cơ sở giáo giáo dục này đạt chuẩn quốc gia, một danh hiệu rất đáng tự hào đối với những người trong ngành. Thế nhưng, cái sự làm quan dù là nhỏ và ở cấp huyện của anh cũng không mấy hanh thông. Đang làm hiệu trưởng thì được điều qua quản lí phòng văn hóa, ngồi ở đó chưa nóng ghế lại bị chuyển trở lại vị trí cũ, rồi cũng chưa ấm chỗ cũ mới rời đi, lại được "đá" về chỗ vừa rời đi trước đó... Cán bộ ngành văn hóa ở ta là một câu chuyện dài, nhưng làm thân phận trái bóng bật bãi qua lại trong một thời gian ngắn, trên cùng một địa bàn như Lê Hữu Phong quả thực cũng hi hữu. Đương nhiên, một góc độ khác, cũng có thể thấy anh là người đa năng, kiên trì, chịu khó, và nhất là có thể đảm đương được mọi công việc theo sự phân công của tổ chức.

Dù có nói thế nào đi chăng nữa thì người ta vẫn nhớ Phong hơn, qua mỗi việc mà anh làm được cho cộng đồng. Ở trường nội trú, ngoài những thành tích chính thống này nọ, ít nhất Phong đã mang đến cho học sinh Bahnar niềm tin yêu vào văn hóa truyền thống của ông cha mình. Là người cung cấp chút ít câu đố và từng thảo luận với nhau về đồng dao Bahnar khi anh muốn tổ chức những cuộc vui dân gian cho học sinh ở trường, tôi hiểu Phong muốn gì ở đám học trò của mình. Anh bảo học sinh dân tộc mà tiếng nói chữ viết dân tộc không biết thì còn nói làm gì? Hình ảnh người hiệu trưởng "la lết" cùng cồng chiêng, lửa trại, biết nói, biết hát tiếng Bahnar, gần gũi, chân thành với tất cả mọi người xung quanh luôn để lại những ấn tượng sâu đậm không chỉ đối với một thế hệ học trò nội trú ở Mang Yang. Không những thế, chính Phong là một trong những người đi đầu trong việc đưa cồng chiêng vào truyền dạy trong nhà trường phổ thông. Khác người, anh không gọi dạy là "đánh" mà kêu là "gõ" cồng chiêng.

 

 
Lần gặp nhau cuối cùng ở Phòng VHTT Mang Yang. Ảnh Văn Tiên

 

Lê Hữu Phong là một người yêu Mang Yang sôi nổi, nhiệt tình đến đắm say hơn mức bình thường. Anh đã làm tất cả mọi việc có thể, để thể hiện cái tình yêu ấy của mình. Phong tập tành làm thơ rồi tha thẩn lượm lặt các bài hát ở làng, thậm chí viết liền mấy bài hát, thu âm vào đĩa, tặng bạn bè và dạy cho học trò biểu diễn. Bếp núc việc Phong sáng tác, chép nhạc nhạc tôi sẽ kể vào một dịp khác, cũng không kém phần thú vị, song điều cần khẳng định ngay là các sản phẩm anh tạo ra, không gì khác hơn nhằm ca ngợi quê hương thứ hai của mình, đại ý: nay còn nghèo khó, nhưng cố gắng vươn lên, sẽ tươi đẹp (hoặc đã tươi đẹp). Phong có các ca khúc từng được biểu diễn nhiều lần ở trường nội trú hay hội thi của huyện như "Dấu ấn Mang Yang" hay "Mang Yang đổi mới". Hệt như lòng nhiệt thành của tác giả, lời bài hát có những đoạn thiết tha: Người dân Mang Yang ơn Đảng, ngày nay đường bê tông, nhà rông cao vút / Huyện Mang Yang sau những năm chia tách, dân cần cù lao động dựng xây /  Đến hôm nay Mang Yang đổi thay...

Dù là khi làm thầy giáo ở làng, ở huyện hay làm cán bộ quản lí văn hóa, Phong vẫn luôn là người chịu khó tìm tòi văn hóa truyền thống, ứng dụng văn hóa dân gian vào cuộc sống hiện đại. Anh ôm ấp ước mơ rằng đến một khi nào đó bớt được cái sự họp hành triền miên, sẽ ngồi viết lại tất cả những điều mình biết về lễ hội hay luật tục, thậm chí cả tri thức Bahnar nữa. Trong "di cảo" mà Phong để lại, người quan tâm có thể thấy tấm lòng anh qua một số trang viết về kinh nghiệm ứng xử của người Bahnar với nhau và với môi trường xung quanh. Phong cũng đã mạnh dạn cho đăng tải cả những phần viết được cho là các bài thuốc dân gian mà anh thu thập được lên trang thông tin điện tử của huyện. Lúc còn sống, Phong từng bảo tôi, đại ý: chúng ta phải làm một cái gì đó để bà con bỏ dần hủ tục nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình. Như thế, vừa ấm no lại vừa tiến bộ. Khi trình bày về "hủ tục" mẹ chết chôn theo con của người Bahnar, anh viết: "Những đứa trẻ xấu số ấy khi người mẹ chết đi, bản thân chúng phải chôn sống theo mẹ hay bị bóp chết hoặc không cho bú, để cho đói đến lúc chết rồi chôn cùng với mẹ. (...) Giờ đây được sự quan tâm của Đảng, chính quyền địa phương, sự giúp đỡ tận tình của các cấp, các ngành...  nhất là Nghị quyết TW 5 khóa VIII  đã làm thay đổi hoàn toàn về suy nghĩ và nếp sống của người dân Bahnar. (...) Nhưng chúng ta không thể chủ quan vì nhiều vùng sâu, xa việc nhận thức vẫn còn thấp kém, kinh tế còn khó khăn, nhiều gia đình có thể quay lại tập tục lạc hậu này mà vô tình xong việc rồi chúng ta mới biết".

Tích lũy từ làng nhiều năm, với lưng vốn ngôn ngữ Bahnar kha khá, không chỉ có mặt ở hầu khắp những nơi cần "thông dịch" cho địa phương, Phong còn tự chuyển ngữ các tài liệu tuyên truyền ra tiếng bản địa để bà con dễ hiểu. Phong cũng đã được mời tham gia biên soạn tài liệu dạy chữ Bahnar. Hơn thế, chính anh là một trong những người được tin cậy, giao đảm nhiệm việc truyền đạt ngôn ngữ này cho nhiều đối tượng học viên... Với văn hóa, ngôn ngữ bản địa, Phong luôn chân thành và nghiêm túc. Chính nhờ vậy, sau những năm cặm cụi, anh đã có một đóng góp đáng kể cho lĩnh vực này, đó là là cuốn Từ vựng đối chiếu Việt - Bahnar, Bahnar - Việt, (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2008, 715 trang, khổ 10 x 15cm). Nghiêm túc mà nói, tập sách bỏ túi này còn nhiều điều phải bàn dưới con mắt chuyên môn. Nhưng, nếu đặt nó vào hoàn cảnh thiếu tài liệu dạy và học ngôn ngữ Bahnar của gần chục năm trước, sẽ thấy cố gắng của Lê Hữu Phong - một người Kinh yêu văn hóa truyền thống - là rất đáng khâm phục. Hiểu và quý nhau, anh kí tặng tôi cuốn sách này ngày 4/11, ngay sau khi nó vừa ra lò, cùng với lời dặn khiêm tốn: Góp ý nhé. Chắc sai sót nhiều lắm... Nhân chuyến xuống làng điền dã cùng nhau hồi ấy, tôi đã ngủ lại nhà Phong một đêm. Định im lặng nhưng khi anh gặng hỏi về cuốn sách đầu tay (và cũng là cuối cùng của mình), trân trọng công lao tác giả, tôi chỉ nói vui: Ông đã đem quê hương Hưng Yên vào đây rồi đấy. Phong ngẩn người ra một chút rồi cười xòa, xác nhận cái tật nói ngọng, lẫn lộn ln của mình, mãi mà vẫn chưa sửa được.

Theo tiếng Bahnar, địa danh Mang Yang (chính xác hơn, amăng mới là cổng còn yang là thần, trời) có nghĩa là Cổng Trời còn Kial tức là Gió. Nick name FB của Phong là một sự chơi chữ, vì Phong còn có nghĩa là gió - Kial Amăng Yang = Gió Mang Yang = Phong Mang Yang. Vâng, bây giờ FB ấy vẫn mở, vẫn hiện hữu bao hình ảnh, kỉ niệm thân thương liên quan đến một con người đáng mến. Nhưng ngọn gió ấy đã về Trời. Sẽ rất khó để những người yêu văn hóa Bahnar nơi này có thể quên được anh, một người đã dành quãng thời gian đẹp nhất của đời mình cho làng. Chẳng thể khác hơn, đành hi vọng những gì mà Phong kịp để lại trong cuộc đời ngắn ngủi, rất có thể vẫn nhẹ nhàng như một ngọn gió trên Cao Nguyên, đủ thức dậy những tình yêu trong trẻo về văn hóa bản địa Gia Lai*.

Nguyễn Quang Tuệ

---

*. Bài đã đăng trên báo Gia Lai, số Tân Niên, 1/1/2015.

 

 

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 41 / 9
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn