PLEIKU XUA VA NAY|NHU MOT TIENG THO DAI | PleikuCafe | Nguoi yeu Pleiku | Tin tuc Pleiku | Con nguoi Pleiku | Que huong Pleiku | Cafe Pleiku
( 19:59:01 24-10-2014 )

 

Viết thêm về văn nghệ dân gian Gia Lai

 


 

Tôi xin được nói lại một điều đã cũ, một việc đã có quá nhiều người bàn đến, ở khắp mọi nơi, trong nhiều hoàn cảnh. Lạ thế, ai cũng biết, đã nhắc nhiều, mà bới ra thì nó vẫn cứ nóng bỏng, mới nguyên và... xót xa. Thành ra, nói thêm một lần nữa, chắc là không thừa.

1. Cách đây mươi 15 năm, biết tôi quan tâm đến văn hóa dân gian (VHDG) địa phương, một người trẻ đã tốt nghiệp đại học nhờ chỉ anh ta làm một nghiên cứu. Nể tình, tôi bảo bạn hãy chọn đề tài đi rồi chúng ta cùng thảo luận. Một tuần sau anh ta quay lại, vẫn y như tuần trước, nghĩa là chưa có gì ngoài cái ý định ban đầu: Trở thành một nhà nghiên cứu. Uống trà, chuyện trò mãi cũng chán vì câu chuyện luôn đi vào ngõ cụt sau mỗi gợi ý của tôi - kiểu hay là nghiên cứu về cái A, cái B, cái C thì anh bạn kia đều lắc đầu cả thảy, cuối cùng, tôi bảo: Này, hay là em làm về cái khố nhỉ? Anh ta trợn mắt, cái khố thì có gì mà nghiên cứu!

Bây giờ tôi đã già. Và, cái khố của người Jrai, Bahnar tỉnh Gia Lai dường như vẫn chưa chọn được nhà nghiên cứu cho mình. Tôi cũng biết thêm một điều rằng đã dại dột, khi xúi anh bạn trẻ (định) nghiên cứu về một vấn đề quá to, là cái khố, trong khi cụ Từ Chi lừng danh kia cũng chỉ dám mon men đến cái cạp váy Mường mà thôi1!

2. Theo thời gian, tôi đã có một đôi cuốn sách về VHDG Gia Lai, trên báo đài TV, đôi khi người ta gắn thêm cho cái danh nghe thì thinh thích nhưng ngượng - là nhà nghiên cứu. Tôi không phải là nhà nghiên cứu. Nhưng lâu lâu cũng được các bạn trẻ làm thạc sĩ, tiến sĩ chiếu cố tham khảo ý kiến mỗi khi trà dư tửu hậu hoặc vì lí do nào đó. Tôi đã gặp những người bạn đưa ra các đề tài... kinh khủng, ví như văn hóa ứng xử của người Tây Nguyên trong sử thi. Tôi hỏi bạn đọc sử thi nào chưa, đáp có, đó là Đam San. Tôi chỉ vào thư mục nghiên cứu cá nhân và bảo giờ sử thi Tây Nguyên đã lên đến con số hàng trăm, bạn ấy bảo thế thì thôi, em làm cái khác, chứ nhìn đống sách dày hàng ngàn trang song ngữ mỗi cuốn đã thấy ngốt lắm rồi... Nhưng không, những bạn bè ấy vẫn đã, đang và sẽ trở thành thạc sĩ, tiến sĩ với những đề tài mà người yếu bóng vía như tôi, chỉ nghe không thôi đã xanh xám mặt mày rồi.

3. Hai mẩu chuyện trên ít nhất cho thấy 2 cách tiếp cận VHDG Gia Lai: Một người chê khố nhỏ quá chưa thể thành đề tài nghiên cứu khoa học, một người làm đề tài tiến sĩ ôm đồm đến ảo tưởng. Đáng nói, hai người này đã chẳng đụng tay đến việc nghiên cứu, sưu tầm VHDG, mỗi người đều đã chọn cho mình một con đường đi riêng và phải nói là có phần vinh thân phì gia, sau đó.

Ở Gia Lai, chúng ta đã và đang sống trên một kho vàng về VHDG nhưng chẳng phải ai cũng dành cho nó sự quan tâm cần thiết. Tôi đã ở đây vài ba mươi năm, theo dõi tương đối đầy đủ lĩnh vực này, nên thấy tiếc vô cùng cho những giá trị một đi không trở lại ấy.

Trước 1975, Gia Lai về cơ bản không được thừa hưởng những di sản VHDG. Sau 1975, vào đầu những năm 1980 và độ chục năm sau đó, miền đất trắng Gia Lai (và Kon Tum) chào đón sự có mặt của các nhà nghiên cứu từ Hà Nội tới. Các vị Từ Chi, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Tấn Đắc, Ngô Văn Doanh,... đã bước đầu phát quang những lối đi nhỏ nhưng đủ sáng cho hậu bối lần theo. Những công trình về hoa văn, âm nhạc, dân tộc học, tín ngưỡng dân gian lần lượt ra đời và neo lại với trần gian, là một phần cơ bản trong tài liệu tham khảo về VHDG địa phương. Những công trình ấy được trích dẫn nhiều và những hình ảnh về một lớp người đã vượt qua nhiều khó khăn để cống hiến cho VHDG Gia Lai càng nhiều hơn.

Nhiều người sẽ rất khó quên hình ảnh một nhà dân tộc học Từ Chi mộc mạc, dễ gần trong khu tập thể Sở Văn hóa cũ ở số 4 Trần Hưng Đạo, Pleiku; người ta cũng không thể quên được việc GS Tô Ngọc Thanh từng bị FULRO bắn, chuyện GS Nguyễn Tấn Đắc được vị Giám đốc Sở đáng kính Trịnh Kim Sung ra tận Hà Nội vời vào ăn cơm tập thể ngủ giường cá nhân để viết chiến lược phát triển văn hóa cho ngành, liền trong 3 tháng...

Sau thế hệ vàng, một thế hệ mới những người làm công tác nghiên cứu sưu tầm VHDG ra đời. Đa phần họ là những công chức, đến với VHDG như một công việc tay trái. Họ có thể đi dạy học, tranh thủ sưu tầm thêm truyện cổ, họ có thể làm ở Sở Văn hóa hay Hội Văn nghệ địa phương, tiện thì thêm đôi chút này nọ. Những đóng góp của họ là có thật và đáng quý, những trăn trở của họ lại càng có thật và đáng trân trọng. Nhưng vì, không nhất thiết phải sống (chết) bằng nghề, với nghề nên sau vài mươi năm có lẻ, chưa thấy xuất hiện người khả dĩ có thể dành trọn tâm huyết của mình cho di sản văn hóa dân tộc địa phương. Những đóng góp của mỗi cá nhân trong lĩnh vực VHDG Gia Lai ví như đôi ba viên hay một vài đống gạch đá, chưa thể thành hình một ngôi nhà chung, lẽ ra rất nên có và đã có thể có vóc dáng nhất định.

4. VHDG Gia Lai chủ yếu là văn hóa truyền thống của người Jrai, Bahnar. Chính các giá trị của nó đã làm nên nét riêng đặc sắc cho vùng đất này. Chúng ta đã cố gắng nhưng thực sự là chưa làm được nhiều, so với tiềm năng vốn có của VHDG địa phương. Vì sao?

Rõ ràng là đội ngũ những người làm công tác VHDG ở Gia Lai hiện nay rất thiếu và yếu. Chúng ta không có những người chuyên được giao làm công việc này (hãy nhìn vào biên chế của Hội Văn nghệ và Sở Văn hóa thì rõ); chúng ta cũng thiếu hẳn một lớp những người kế cận cho công việc này (cả tỉnh chỉ có dăm sáu hội viên, mấy năm qua, lực lượng lại hao hụt đi). Vì nhiều lí do, đối với nhiều hội viên, công bố công trình thực sự là việc khó khăn, dù không ai không trăn trở.

Có hai thứ làm cho VHDG Gia Lai yếu kém đó là thiếu tiền tài và nhân lực. Tôi nghĩ tiền vô cùng khó song có thể kiếm được từ từ, từ nhiều nguồn nhưng nhân lực, trong tình hình hiện nay thì gần như là vô vọng, nếu nhìn vấn đề từ khía cạnh tăng biên chế. Thành ra, để khắc phục tình trạng này, không thể khác hơn chúng ta hi vọng sẽ đón nhận thêm sự cố gắng tự thân của mỗi người yêu VHDG địa phương trong thời gian tới. Chưa làm ăn lớn được thì đành nhỏ lẻ, du kích vậy. Mỗi người một tay vẫn hơn là ngồi nhìn thời gian trôi.

Hãy cứ nhớ rằng, ngay vào lúc này đây, chúng ta chỉ cần xích ra khỏi trung tâm Pleiku chừng dăm cây số, đã gặp ngay môi trường nghiên cứu văn hóa bản địa, đi thêm trăm cây nữa, thì vấn đề còn đậm đặc hơn. Hãy cứ nhớ rằng dăm mười năm nữa, làng sẽ khác bây giờ rất nhiều và khi đó, chúng ta dù có lắm tiền, nhiều người, thì cũng chưa chắc đã còn môi trường tốt để thực hiện. Nói thế để cùng lo lắng, cùng nhau cố gắng bắt tay vào công việc2.

Nguyễn Quang Tuệ

----

1. Từ Chi, Hoa văn Mường, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1978.

2. Bài đọc trong Đại hội V, Hội VHNT Gia Lai (Pleiku, 22 - 23/10/2014), đã in trong tạp chí Văn nghệ Gia Lai, số tháng 10/2014.

Ảnh NQT do anh Lê Khôi Nguyên, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Đắc Lắc chụp. 

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 74 / 17
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
( Email này sẽ được ẩn )
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn